Một trong 8 nội dung xuyên suốt tập trung triển khai các quyết sách chiến lược được Tổng Bí thư Tô Lâm nêu tại Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV Đảng Cộng sản Việt Nam là “khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực trung tâm của phát triển”.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; là phương thức để tạo ra các mô hình kinh doanh mới, việc làm mới, giá trị gia tăng mới.
Tập trung phát triển công nghệ chiến lược. Thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia toàn diện, trước hết là hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu số; xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số; bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu; đẩy mạnh ứng dụng, phổ cập kỹ năng số, thu hẹp khoảng cách số; tạo môi trường thử nghiệm, khuyến khích đổi mới, bảo vệ sáng tạo. Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học; đưa khoa học công nghệ vào từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương, từng doanh nghiệp.
Muốn đột phá về công nghệ, phải bắt đầu từ con người và cơ chế. Không thể chủ quan, duy ý chí. Phải có cơ chế trọng dụng nhân tài; cơ chế đánh giá dựa trên sản phẩm; cơ chế tài chính linh hoạt; cơ chế hợp tác công tư; cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học gắn với yêu cầu phát triển. Khoa học, công nghệ phải đi vào đời sống, phục vụ người dân, nâng năng suất lao động, giảm chi phí xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt, trung tâm của phát triển đất nước
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, Đại hội XIV xác định rõ đột phá về nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là một trong ba đột phá chiến lược của giai đoạn tới.
Trên cơ sở đó, theo thầy Hoàn, Nhà nước cần đầu tư trọng điểm cho các lĩnh vực công nghệ lõi, chuyển đổi số, AI, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch… Đồng thời hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo tầm khu vực, khu công nghệ cao, khu R&D của doanh nghiệp toàn cầu. Cơ chế đặt hàng nghiên cứu, cần được đẩy mạnh gắn nghiên cứu với nhu cầu của Nhà nước và doanh nghiệp và Phát triển thị trường khoa học - công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Song song đó, có những định hướng rõ ràng về chuyển đổi số toàn diện trong giáo dục và nghiên cứu khoa học: Số hóa toàn diện hoạt động đào tạo, quản trị, kiểm định chất lượng; xây dựng hạ tầng dữ liệu mở, cơ sở dữ liệu quốc gia về đào tạo, nghiên cứu, nhân lực khoa học, công nghệ và phát triển đại học số, thí điểm đào tạo trực tuyến xuyên biên giới.
"Tựu trung lại, giới khoa học và giáo dục đại học kỳ vọng nhiệm kỳ Đại hội XIV đề ra đột phá thể chế, tạo không gian tự chủ thực chất. Tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo. Xây dựng hệ sinh thái nhân lực chất lượng cao, gắn đào tạo với nhu cầu chiến lược của quốc gia, tạo điều kiện cho hệ thống đại học bứt phá và hội nhập quốc tế", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn chia sẻ.
Cùng trao đổi, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Trinh - Phó hiệu trưởng Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội bày tỏ, Báo cáo văn kiện Đại hội XIV đã nhấn mạnh, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực trung tâm của phát triển. Điều này mở ra dư địa rất lớn cho khoa học công nghệ Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số quốc gia.
Theo cô Trinh, đối với khoa học công nghệ nói chung, dư địa thể hiện ở việc ưu tiên phát triển công nghệ chiến lược, hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu số, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. Đây là cơ hội để khoa học công nghệ không còn "tách rời" mà thực sự trở thành nền tảng nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm an ninh mạng và tự chủ công nghệ.
Cô Trinh nhìn nhận, với giáo dục đại học, đây là cơ hội đột phá để đổi mới căn bản, toàn diện đào tạo: gắn kết chặt chẽ giữa giảng dạy - nghiên cứu - ứng dụng thực tiễn. Các trường đại học như Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội có thể tận dụng để phát triển chương trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường số hóa (như GIS số, AI giám sát môi trường, dữ liệu lớn về biến đổi khí hậu), thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo từ sinh viên. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo mà còn đáp ứng trực tiếp nhu cầu nhân lực cho kinh tế xanh, bền vững - một trụ cột trong khát vọng phát triển đất nước hùng cường.
Tóm lại, quan điểm “khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Động lực trung tâm của phát triển” tạo "bệ phóng" để giáo dục đại học trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới, sản sinh nhân tài và sản phẩm khoa học có giá trị thực tiễn cao.
Còn Tiến sĩ Trần Lăng - Hiệu trưởng Trường Đại học Phú Yên cũng nhìn nhận, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, coi khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm của phát triển thực sự mở ra một thời cơ lớn cho các trường đại học, trong đó có Trường Đại học Phú Yên. Với nhà trường, đây không chỉ là định hướng vĩ mô mà còn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động để phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Trước hết, hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp sẽ được đẩy mạnh để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với thực tiễn sản xuất - kinh doanh. Qua đó, kết quả nghiên cứu của giảng viên và sinh viên có thể nhanh chóng được ứng dụng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương, của đất nước.
Cùng với đó, nhà trường xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ then chốt. Do vậy, trường đang xây dựng cơ chế khuyến khích giảng viên nghiên cứu, đánh giá thực chất sản phẩm khoa học, nhằm tạo động lực sáng tạo và lan tỏa tinh thần khoa học trong toàn trường.
Chuyển đổi số trong quản lý và giảng dạy cũng là vấn đề lớn trong giai đoạn hiện nay. Việc áp dụng công nghệ số giúp nhà trường vận hành hiệu quả hơn, tăng cường tính tự chủ, đồng thời tạo ra nhiều mô hình đào tạo và cơ hội việc làm mới cho sinh viên trong kỷ nguyên số. Bên cạnh đó, chúng tôi chú trọng xây dựng môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, nơi sinh viên và giảng viên được thử nghiệm, phát triển ý tưởng, biến tri thức thành sản phẩm phục vụ cộng đồng. Mặt khác, với cơ chế tài chính linh hoạt và hợp tác công - tư, Trường Đại học Phú Yên kỳ vọng thúc đẩy thêm nhiều dự án nghiên cứu có chất lượng, gắn kết với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.
"Tôi tin rằng, nếu tận dụng tốt những cơ hội này, Trường Đại học Phú Yên sẽ khẳng định vị thế là trung tâm tri thức, đổi mới sáng tạo, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của tỉnh Đắk Lắk và khu vực Miền Trung - Tây Nguyên", Tiến sĩ Trần Lăng bày tỏ.
Đổi mới mạnh mẽ các cơ chế trong khoa học và công nghệ là yếu tố then chốt để khơi thông nguồn lực
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn khẳng định, trong bối cảnh kinh tế số và kinh tế xanh, vai trò của các trường đại học càng trở nên quan trọng trong việc chuyển giao tri thức và công nghệ cho doanh nghiệp và địa phương.
Đầu tiên là cơ chế tài chính và chính sách hỗ trợ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Cần tạo điều kiện thuận lợi cho các trường đại học hợp tác chặt chẽ hơn với các doanh nghiệp, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao và công nghiệp xanh. Việc này không chỉ giúp các trường đại học nâng cao khả năng nghiên cứu mà còn thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai là tăng cường cơ chế hỗ trợ hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp, bao gồm các chính sách về đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng, hỗ trợ các dự án nghiên cứu có tính thực tiễn cao. Điều này sẽ giúp các trường đại học trở thành những trung tâm đổi mới sáng tạo, cung cấp các giải pháp công nghệ cho các doanh nghiệp, góp phần phát triển nền kinh tế xanh bền vững.
Bên cạnh đó, thầy Hoàn cho rằng nên xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chung, nền tảng số để các trường đại học, doanh nghiệp và địa phương có thể kết nối dễ dàng hơn, trao đổi tri thức và hợp tác trong việc phát triển công nghệ. Cũng như tạo ra các chính sách tạo điều kiện cho các trường đại học tham gia trực tiếp vào quá trình chuyển đổi số của các ngành nghề và địa phương.
"Thông qua các cơ chế và chính sách này, tôi tin rằng các trường đại học sẽ phát huy tốt hơn vai trò trung tâm tri thức, chuyển giao công nghệ, đồng hành cùng doanh nghiệp và địa phương, góp phần tạo ra sự phát triển bền vững trong nền kinh tế số và kinh tế xanh.
Tôi tin rằng, với tầm nhìn chiến lược và các chủ trương đúng đắn được hoạch định tại Đại hội XIV, giáo dục đại học, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam sẽ có điều kiện bứt phá mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Trinh cho rằng, việc đổi mới mạnh mẽ cơ chế, đặc biệt trọng dụng nhân tài, cơ chế tài chính linh hoạt và đặt hàng nhiệm vụ khoa học gắn với nhu cầu thực tiễn, có ý nghĩa quyết định, mang tính đột phá trong khơi thông nguồn lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Hiện nay, nhiều "nút thắt" về cơ chế khiến nguồn lực bị lãng phí, nghiên cứu thiếu động lực ứng dụng. Đổi mới cơ chế sẽ giải phóng sáng tạo, khuyến khích nhà khoa học dám nghĩ, dám làm, chuyển từ đánh giá hình thức sang dựa trên sản phẩm thực tiễn, từ ngân sách cứng nhắc sang linh hoạt hợp tác công - tư.
Theo cô Trinh, đối với việc thu hút, trọng dụng và giữ chân nhân tài, cần các chính sách cụ thể, đồng bộ.
Thứ nhất, cơ chế đãi ngộ vượt trội, cho phép trả lương theo thỏa thuận, thưởng dựa trên kết quả, hỗ trợ nhà ở, nghiên cứu (theo tinh thần Nghị định 263/2025/NĐ-CP và các nghị định liên quan về thu hút chuyên gia khoa học và công nghệ).
Thứ hai, tạo môi trường làm việc hấp dẫn, tự chủ cao cho tổ chức khoa học và công nghệ, cơ chế đánh giá sản phẩm thay vì bằng cấp, bảo vệ sáng tạo và quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ ba, giữ chân, xây dựng lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng, tôn vinh xứng đáng (giải thưởng, danh hiệu), gắn nghiên cứu với ứng dụng thực tiễn để nhà khoa học thấy giá trị đóng góp.
"Tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, chúng tôi đang nỗ lực áp dụng các cơ chế này để thu hút giảng viên, nghiên cứu viên giỏi trong lĩnh vực môi trường số và tài nguyên bền vững", cô Trinh cho biết thêm.
Tiến sĩ Vũ Lăng cũng khẳng định, đổi mới mạnh mẽ các cơ chế trong khoa học và công nghệ là yếu tố then chốt để khơi thông nguồn lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong giáo dục đại học. Theo đó, khi cơ chế tài chính, quản lý và hợp tác được cải thiện, các trường sẽ dễ dàng huy động và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển. Điều đó giúp nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới và chất lượng đào tạo.
Mặt khác, với cơ chế linh hoạt và khuyến khích sáng tạo sẽ tạo động lực cho các nhà khoa học, giảng viên và sinh viên mạnh dạn tham gia vào các dự án nghiên cứu, khởi nghiệp, chuyển giao công nghệ. Khi được trao quyền chủ động, họ sẽ cống hiến nhiều hơn cho sự phát triển chung.
Theo thầy Lăng, để thu hút và giữ chân nhân tài khoa học, điều quan trọng là cần có chính sách rõ ràng và thực chất. Cá nhân tôi cho rằng, phải làm tốt năm điểm: đãi ngộ xứng đáng, cơ hội phát triển nghề nghiệp, môi trường làm việc sáng tạo, chính sách ổn định, và sự ghi nhận kịp thời. Khi được tôn trọng và trao cơ hội, các nhà khoa học sẽ toàn tâm gắn bó và đóng góp lâu dài. Tôi tin rằng, nếu cải cách cơ chế gắn liền với trọng dụng nhân tài, các trường đại học Việt Nam sẽ thực sự trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo - nơi ươm mầm và lan tỏa tri thức.
Khi khoa học và công nghệ thực sự đi vào đời sống, chúng ta sẽ đạt được chuyển biến rất căn bản: Tri thức không chỉ nằm trong phòng thí nghiệm, mà trở thành sức mạnh vật chất, tạo ra giá trị mới cho xã hội. Khoa học giúp người dân sống tốt hơn, doanh nghiệp vận hành hiệu quả hơn, và đất nước phát triển nhanh hơn - đó chính là mục tiêu cao nhất mà mọi chính sách hướng tới.
Đưa tri thức từ giảng đường và phòng thí nghiệm ra đời sống
Thầy Lăng cũng cho rằng, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học hay mô hình “ba nhà” đang ngày càng trở nên quan trọng. Đây không chỉ là xu hướng, mà là nhu cầu thực tế nếu chúng ta muốn đưa tri thức từ giảng đường và phòng thí nghiệm ra đời sống, tạo ra những sản phẩm, công nghệ có giá trị thực sự.
Theo đó, trường đại học đóng vai trò “vườn ươm” của ý tưởng, nơi đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu cơ bản. Viện nghiên cứu đi sâu vào công nghệ lõi, còn doanh nghiệp chính là nơi “biến” kết quả nghiên cứu thành sản phẩm phục vụ thị trường. Khi ba bên cùng bắt tay, biết lắng nghe và chia sẻ thế mạnh của nhau, sẽ hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ ý tưởng đến sản phẩm - và đó chính là con đường ngắn nhất để khoa học đi vào cuộc sống.
"Vấn đề là làm sao để sự hợp tác này không chỉ nằm trên giấy. Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải có cơ chế thông thoáng và linh hoạt để các bên có thể cùng đầu tư, cùng hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu.
Bên cạnh đó, nên có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu cho trường và viện - vì chỉ khi nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn thì mới có tính ứng dụng cao. Một điểm nữa là cần xây dựng nhiều không gian chung như trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm khởi nghiệp để giảng viên, sinh viên và doanh nghiệp có thể gặp gỡ, cùng thử nghiệm và phát triển ý tưởng", thầy Lăng cho hay.
Còn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Trinh thì bày tỏ, vai trò của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn kết "ba nhà" là then chốt, quyết định trong bối cảnh hiện nay. Đây không chỉ là liên kết hình thức mà phải tạo động lực nội sinh, chuyển giao công nghệ nhanh chóng từ nghiên cứu đến sản xuất, giúp sản phẩm khoa học có giá trị ứng dụng cao, phục vụ trực tiếp phát triển kinh tế - xã hội.
Trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, hệ sinh thái này giúp giải quyết các vấn đề thực tiễn như giám sát ô nhiễm bằng AI, quản lý tài nguyên nước thông minh, kinh tế tuần hoàn. Nếu không gắn kết, nghiên cứu dễ "treo" ở phòng thí nghiệm, doanh nghiệp thiếu công nghệ mới.
Triển khai hiệu quả chủ trương "khoa học công nghệ phải đi vào đời sống" là yếu tố quyết định để hiện thực hóa khát vọng đất nước hùng cường, thịnh vượng và bền vững. Khi khoa học công nghệ thực sự phục vụ người dân, nó sẽ nâng cao năng suất lao động (qua tự động hóa, số hóa), giảm chi phí xã hội (quản lý tài nguyên hiệu quả, giảm ô nhiễm), tạo việc làm mới, giá trị gia tăng cao, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xanh.
Để phát huy hiệu quả, cần các cơ chế, chính sách cụ thể. Chẳng hạn, cơ chế hợp tác công-tư (PPP) khuyến khích doanh nghiệp đồng đầu tư nghiên cứu, chia sẻ lợi ích từ sản phẩm; đặt hàng nhiệm vụ khoa học để doanh nghiệp và địa phương đặt hàng trường đại học/viện nghiên cứu giải quyết vấn đề cụ thể, với ngân sách linh hoạt.
Bên cạnh đó là chính sách hỗ trợ chuyển giao công nghệ, ưu đãi thuế, quỹ hỗ trợ khởi nghiệp từ kết quả nghiên cứu, sàn giao dịch công nghệ. Cơ chế chia sẻ sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền lợi các bên, khuyến khích thương mại hóa. Đồng thời, xây dựng trung tâm đổi mới tại các trường đại học, kết nối với doanh nghiệp và viện nghiên cứu.
Tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cô Trinh cho biết, nhà trường đang đẩy mạnh các mô hình hợp tác này để tạo sản phẩm ứng dụng cao trong bảo vệ môi trường.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn cho rằng, cần tăng cường cơ chế hỗ trợ hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp, bao gồm các chính sách về đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng, hỗ trợ các dự án nghiên cứu có tính thực tiễn cao. Điều này sẽ giúp các trường đại học trở thành những trung tâm đổi mới sáng tạo, cung cấp các giải pháp công nghệ cho các doanh nghiệp, góp phần phát triển nền kinh tế xanh bền vững.
Bên cạnh đó, theo thầy Hoàn, nên xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chung, nền tảng số để các trường đại học, doanh nghiệp và địa phương có thể kết nối dễ dàng hơn, trao đổi tri thức và hợp tác trong việc phát triển công nghệ. Đồng thời, tạo ra các chính sách tạo điều kiện cho các trường đại học tham gia trực tiếp vào quá trình chuyển đổi số của các ngành nghề và địa phương.
"Thông qua các cơ chế và chính sách này, tôi tin rằng các trường đại học sẽ phát huy tốt hơn vai trò trung tâm tri thức, chuyển giao công nghệ, đồng hành cùng doanh nghiệp và địa phương, góp phần tạo ra sự phát triển bền vững trong nền kinh tế số và kinh tế xanh", thầy Hoàn nhấn mạnh thêm.
Tôi tin rằng, với tầm nhìn chiến lược và các chủ trương đúng đắn được hoạch định tại Đại hội XIV, giáo dục đại học, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam sẽ có điều kiện bứt phá mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
