Đào tạo nhân lực ngành Hộ sinh đang phân bổ ra sao?

16/02/2026 06:22
Ngọc Linh

GDVN - Theo thống kê, cả nước có 11 CSGDĐH đào tạo ngành Hộ sinh. Đây là ngành học chuyên đào tạo nhân lực chăm sóc SKSS cho phụ nữ và trẻ sơ sinh.

Trong bối cảnh chăm sóc sức khỏe toàn diện, ngành Hộ sinh giữ vai trò chiến lược trong hệ thống y tế, đặc biệt trong việc bảo đảm an toàn cho mẹ và trẻ sơ sinh. Những năm gần đây, với sự gia tăng về dân số, tỷ lệ sinh và yêu cầu nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, nhu cầu về nguồn nhân lực hộ sinh chất lượng cao đang tăng mạnh.

Tại nhiều quốc gia, hộ sinh là nhóm nghề chiếm tỷ lệ đáng kể trong lực lượng điều dưỡng - y tá, góp phần lớn trong các dịch vụ sản phụ khoa, chăm sóc trước và sau sinh, tư vấn sinh sản, và giáo dục sức khỏe cộng đồng.

Song song với xu hướng này, tại Việt Nam, việc phát triển đào tạo ngành Hộ sinh ở bậc đại học đã trở thành một yêu cầu cấp thiết để đáp ứng nhu cầu xã hội và nâng cao chất lượng chăm sóc sản phụ.

Do đó, để độc giả có cái nhìn tổng quan về hệ thống đào tạo nhân lực ngành Hộ sinh trên cả nước, phóng viên đã tổng hợp danh sách các trường đại học đang đào tạo ngành Hộ sinh về quy mô đào tạo, mô hình tổ chức và điều kiện thực hành.

ho-sinh.png
Ngành Hộ sinh giữ vai trò chiến lược trong hệ thống y tế, đặc biệt trong việc bảo đảm an toàn cho mẹ và trẻ sơ sinh. Ảnh minh họa: website Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng

Cả nước có 11 trường đang đào tạo ngành Hộ sinh

Hộ sinh (tên tiếng Anh: Midwifery) là ngành liên quan đến những chuyên môn về sinh nở và được đào tạo bài bản liên quan đến những kiến thức chuyên về chăm sóc và bảo vệ phụ nữ và trẻ sơ sinh, nhằm đảm bảo về mặt sức khỏe, tâm sinh lý và sự an toàn tuyệt đối cho các bà mẹ và trẻ sơ sinh.

Theo thống kê của Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại cả nước có 11 cơ sở giáo dục đại học đang đào tạo ngành Hộ sinh. Trong đó, có 7 trường công lập và 4 trường tư, cụ thể như sau:

7 trường công lập gồm: Trường Đại học Y - Dược (Đại học Thái Nguyên), Trường Đại học Y - Dược (Đại học Huế), Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Trường Đại học Y Hà Nội. Đáng chú ý, các trường đại học nêu trên đều là các cơ sở giáo dục đại học đào tạo chuyên biệt trong lĩnh vực sức khỏe.

4 trường tư gồm: Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, Trường Đại học Đông Á, Trường Đại học Cửu Long và Đại học Phenikaa. Các trường đại học này đều là những cơ sở đào tạo đa ngành, với nhiều nhóm ngành khác nhau bao gồm cả khối sức khỏe, kỹ thuật - công nghệ, kinh tế, quản trị và các lĩnh vực xã hội - nhân văn.

diem-chuan-nganhcnkt.png
Số lượng, vị trí tập trung của các cơ sở giáo dục đại học đào tạo ngành Hộ sinh. Ảnh: Thu Thủy

Như vậy, các cơ sở giáo dục đại học đào tạo ngành Hộ sinh hiện nay chủ yếu tập trung tại một số thành phố trực thuộc Trung ương như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế và Cần Thơ. Ngoài ra, Ninh Bình là tỉnh duy nhất đến thời điểm này có cơ sở giáo dục đại học tham gia đào tạo nhân lực ngành Hộ sinh.

Từ đó có thể thấy, ngành Hộ sinh hiện vẫn là ngành đào tạo có quy mô tương đối hạn chế trong hệ thống giáo dục đại học, với số lượng cơ sở tham gia đào tạo chưa nhiều và vai trò chủ đạo vẫn thuộc về khối trường công lập chuyên ngành sức khỏe.

Hầu hết các trường không có Khoa Hộ sinh riêng biệt

Theo thông tin trên các website của các trường, hầu hết các trường không có Khoa Hộ sinh riêng biệt mà ngành này thường được tổ chức trong Khoa Điều dưỡng hoặc Khoa Điều dưỡng ‑ Hộ sinh trực thuộc các trường. Cụ thể như sau:

STT
Trường
Ngành Hộ sinh thuộc khoa/trường/bộ môn
Khối trường đại học công lập
1
Trường Đại học Y Hà Nội
Khoa Điều dưỡng – Hộ sinh
2
Trường Đại học Y - Dược (Đại học Thái Nguyên)
Bộ môn Phụ sản
3
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Khoa Điều dưỡng - Hộ sinh
4
Trường Đại học Y - Dược (Đại học Huế)
Khoa Điều dưỡng
5
Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Khoa Điều Dưỡng - Kỹ thuật Y học
6
Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Trường Điều dưỡng - Kỹ thuật y học
7
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật Y học
Khối trường tư
1
Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
Khoa Điều dưỡng - Hộ sinh
2
Trường Đại học Đông Á
Khoa Điều dưỡng - Hộ sinh
3
Trường Đại học Cửu Long
Khoa Khoa học sức khoẻ
4
Đại học Phenikaa
Khoa Điều dưỡng

Đối sánh với bảng thống kê cho thấy, hiện nay hầu hết các trường đại học có đào tạo ngành Hộ sinh đều chưa tổ chức ngành này thành một khoa độc lập. Thay vào đó, ngành Hộ sinh thường được bố trí trong Khoa Điều dưỡng, Khoa Điều dưỡng - Hộ sinh, hoặc thuộc các khoa/trường có phạm vi đào tạo rộng hơn như Khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật y học, Khoa Khoa học sức khỏe. Mô hình tổ chức này xuất hiện phổ biến ở cả khối trường đại học công lập lẫn khối trường tư, từ các trường y khoa đầu ngành đến các cơ sở đào tạo đa lĩnh vực.

3/4 trường đại học có đào tạo ngành Hộ sinh sở hữu bệnh viện trực thuộc là trường công lập

Trong số 11 cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam đào tạo ngành Hộ sinh trên, có 4 trường đại học có bệnh viện trực thuộc.

Cụ thể, đối với các trường đại học công lập, Trường Đại học Y Hà Nội có Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học Y - Dược (Đại học Huế) có Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh có Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Việc có bệnh viện trực thuộc giúp các cơ sở này chủ động hơn trong tổ chức đào tạo lâm sàng, gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn, đồng thời tạo điều kiện để sinh viên ngành Hộ sinh được tiếp cận sớm, thường xuyên và liên tục với môi trường nghề nghiệp thực tế.

Ở khối trường tư, Đại học Phenikaa là trường duy nhất có bệnh viện trực thuộc là Bệnh viện Đại học Phenikaa nằm trong hệ sinh thái y tế của tập đoàn. Đây được xem là một lợi thế đáng kể trong bối cảnh đa số các trường tư khác chưa tự chủ được cơ sở thực hành, mà phải dựa vào mạng lưới bệnh viện liên kết bên ngoài.

diem-chuan-nganhcnkt-1954.png
3/4 trường đại học có đào tạo ngành Hộ sinh sở hữu bệnh viện trực thuộc là trường công lập. Ảnh: Thu Thủy

Từ thực tế trên, có thể thấy, sự chênh lệch về điều kiện cơ sở thực hành, đặc biệt là việc sở hữu bệnh viện trực thuộc đang tạo ra khác biệt nhất định trong môi trường đào tạo ngành Hộ sinh giữa các trường. Trong bối cảnh đặc thù của ngành đòi hỏi kỹ năng tay nghề cao và trải nghiệm thực hành lâm sàng, đây là yếu tố cần được cân nhắc kỹ lưỡng khi đánh giá năng lực đào tạo, cũng như trong quá trình phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo ngành Hộ sinh.

Theo Điểm c, d, Khoản 2, Điều 3, Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-BGDĐT quy định điều kiện, trình tự, thủ tục mở ngành đào tạo, đình chỉ hoạt động của ngành đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ nêu rõ: Đối với các ngành đào tạo thuộc lĩnh vực Sức khỏe (theo quy định tại Danh mục thống kê ngành đào tạo), giảng viên và người hướng dẫn thực hành các môn học, học phần liên quan đến khám, chữa bệnh phải có giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, đã hoặc đang làm việc trực tiếp tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện là cơ sở thực hành trong đào tạo ngành thuộc lĩnh vực sức khoẻ theo quy định của Chính phủ về tổ chức đào tạo thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe.

Giảng viên chủ trì xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo và giảng viên chủ trì giảng dạy chương trình đào tạo phải là giảng viên cơ hữu không quá tuổi nghỉ hưu tối đa theo quy định của Chính phủ về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập; hằng năm trực tiếp giảng dạy trọn vẹn một số học phần bắt buộc hoặc hướng dẫn chính luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ trong chương trình đào tạo.

Do đó, phóng viên thực hiện khảo sát tại một số trường đại học công lập và tư thục bất kỳ về đội ngũ giảng viên tham gia đào tạo ngành Hộ sinh để thấy rõ hơn sự khác nhau về nguồn nhân lực giữa các đơn vị. Cụ thể như sau:

STT
Trường
Tổng giảng viên toàn thời gian tham gia đào tạo ngành Hộ sinh
Nguồn số liệu
Khối trường đại học công lập
1
Trường Đại học Y Hà Nội
22 giảng viên toàn thời gian gồm: 6 tiến sĩ, 1 bác sĩ Chuyên khoa II, 13 thạc sĩ và 2 cử nhân.
Báo cáo thường niên năm 2025
2
Trường Đại học Y - Dược (Đại học Thái Nguyên)
19 giảng viên toàn thời gian gồm: 5 tiến sĩ, 5 bác sĩ Chuyên khoa II, 4 thạc sĩ, 1 bác sĩ Chuyên khoa I/bác sĩ nội trú và 4 cử nhân.
Báo cáo công khai năm 2025
3
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
17 giảng viên toàn thời gian gồm: 1 phó giáo sư, 4 tiến sĩ và 12 thạc sĩ.
Báo cáo thường niên năm 2024
4
Trường Đại học Y - Dược (Đại học Huế)
Không nêu cụ thể về số lượng giảng viên đào ngành Hộ sinh.
Báo cáo công khai năm 2025
5
Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Không nêu cụ thể về số lượng giảng viên đào ngành Hộ sinh.
Báo cáo thường niên năm 2024
6
Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Không nêu cụ thể về số lượng giảng viên đào ngành Hộ sinh.
Báo cáo thường niên năm 2024
7
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Không nêu cụ thể về số lượng giảng viên đào ngành Hộ sinh.
Báo cáo thường niên năm học 2024-2025
Khối trường tư
1
Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
Không nêu cụ thể về số lượng giảng viên đào ngành Hộ sinh.
Báo cáo công khai năm 2025
2
Trường Đại học Đông Á
Không nêu cụ thể về số lượng giảng viên đào ngành Hộ sinh.
Báo cáo công khai năm 2024
3
Trường Đại học Cửu Long
Không nêu cụ thể về số lượng giảng viên đào ngành Hộ sinh.
Báo cáo công khai năm 2025
4
Đại học Phenikaa
Không nêu cụ thể về số lượng giảng viên đào ngành Hộ sinh.
Báo cáo công khai năm 2025

Ở khối trường đại học công lập, một số cơ sở có công bố khá đầy đủ số lượng và cơ cấu trình độ giảng viên tham gia đào tạo ngành Hộ sinh. Đơn cử, Trường Đại học Y Hà Nội và Trường Đại học Y – Dược (Đại học Thái Nguyên) đều có đội ngũ từ gần 20 giảng viên toàn thời gian trở lên, với cơ cấu trình độ tương đối đa dạng, bao gồm tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa và thạc sĩ. Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định cũng cho thấy lợi thế về tính chuyên sâu khi đội ngũ giảng viên chủ yếu có trình độ sau đại học, trong đó có phó giáo sư và tiến sĩ, phù hợp với đặc thù là cơ sở đào tạo trọng điểm về hộ sinh.

Tuy nhiên, cũng trong khối công lập, nhiều trường y khoa chưa nêu rõ số lượng giảng viên toàn thời gian trực tiếp đào tạo ngành Hộ sinh trong các báo cáo công khai.

Đối với khối trường tư, tình trạng tương tự cũng diễn ra khi các cơ sở được khảo sát chưa công khai cụ thể số lượng giảng viên toàn thời gian tham gia đào tạo ngành Hộ sinh. Điều này phần nào cho thấy sự thiếu đồng nhất trong cách thức công khai thông tin giữa các trường, đồng thời đặt ra yêu cầu về việc minh bạch hóa dữ liệu đội ngũ giảng viên theo từng ngành đào tạo, nhất là với các ngành đặc thù như Hộ sinh.

Từ kết quả khảo sát, có thể nhận thấy, bên cạnh sự khác nhau về điều kiện cơ sở thực hành, nguồn nhân lực giảng dạy ngành Hộ sinh giữa các cơ sở đào tạo cũng đang tồn tại những khoảng cách nhất định. Do đó, việc công khai đầy đủ, chi tiết và thống nhất thông tin về đội ngũ giảng viên không chỉ giúp xã hội, người học có thêm cơ sở lựa chọn trường đào tạo, mà còn là yếu tố quan trọng để cơ quan quản lý đánh giá thực chất năng lực đào tạo và có định hướng phát triển ngành Hộ sinh phù hợp trong thời gian tới.

Ngọc Linh