Trước tác động mạnh mẽ của việc chuyển dịch năng lượng và làn sóng công nghệ số, ngành Kỹ thuật dầu khí đứng trước nhiều thay đổi về mô hình sản xuất, yêu cầu nhân lực và cơ hội việc làm.
Theo đại diện một số trường đào tạo ngành Kỹ thuật dầu khí cũng như người làm việc trong lĩnh vực này, bên cạnh nền tảng chuyên môn, người lao động ngày càng phải đáp ứng các yêu cầu mới về ngoại ngữ, kỹ năng công nghệ để thích ứng với môi trường làm việc mang tính quốc tế và tự động hóa cao.
Ngành Kỹ thuật dầu khí yêu cầu nhân lực chất lượng cao gắn với công nghệ số
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Quang Duyến - Trưởng khoa, Khoa Dầu khí và Năng lượng, Trường Đại học Mỏ - Địa chất đánh giá, theo xu thế chung của thế giới, trong khoảng 15 năm trở lại đây, nhiều quốc gia đã từng bước điều chỉnh, giảm dần hoạt động khai thác dầu khí. Tuy nhiên, trước yêu cầu bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định cho phát triển kinh tế và sản xuất công nghiệp, nhiều nước hiện nay đang cân nhắc tiếp tục khai thác các nguồn tài nguyên hóa thạch. Vì vậy, dầu khí đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng lượng cho ngành công nghiệp.
Mặc dù nhiều nguồn năng lượng mới như năng lượng tái tạo hay năng lượng phi truyền thống đã và đang được triển khai, song các nguồn này còn thiếu tính ổn định, phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên. Do đó, dầu khí được coi là nguồn năng lượng nền, đóng vai trò bảo đảm nguồn cung trong thời điểm những nguồn năng lượng khác suy giảm hoặc chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng, qua đó góp phần duy trì hoạt động sản xuất cũng như phát triển kinh tế.
Thực tế, tại Trường Đại học Mỏ - Địa chất, giai đoạn 2019-2022, công tác tuyển sinh ngành Kỹ thuật dầu khí gặp nhiều thách thức, số lượng người học sụt giảm đáng kể. Tuy nhiên, trong khoảng 3 năm trở lại đây, ngành học này đã ghi nhận những tín hiệu tích cực, với số lượng thí sinh đăng ký theo học có xu hướng tăng trở lại. Điều này cho thấy, bên cạnh nguồn năng lượng tái tạo, các nguồn năng lượng truyền thống như dầu khí, than đá vẫn là trụ cột trong việc bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định.
Tuy vậy, trong bối cảnh thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng "0", việc sử dụng nguồn năng lượng có mức phát thải cao cần được kiểm soát và từng bước hạn chế. Trong ngành dầu khí, khí tự nhiên được xem là nguồn năng lượng có mức phát thải thấp hơn so với các nhiên liệu hóa thạch khác. Thời gian tới, cùng với lộ trình hướng tới phát thải ròng bằng "0", nhiều nguồn năng lượng mới như năng lượng tái tạo hay năng lượng hydro sẽ tiếp tục được triển khai nhằm giảm phát thải, đồng thời vẫn bảo đảm an ninh năng lượng.
Bài toán đặt ra là vừa đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế, vừa từng bước chuyển dịch theo hướng xanh và bền vững. Vì vậy, cần phát triển đồng bộ, kết hợp hài hòa giữa các nguồn năng lượng, bao gồm cả năng lượng tái tạo, năng lượng truyền thống và trong tương lai là điện hạt nhân, nhằm bảo đảm an ninh năng lượng dài hạn.
Đồng quan điểm, Tiến sĩ Võ Đại Nhật - Trưởng khoa, Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, ngành dầu khí hiện đang trải qua quá trình "tiến hóa" để thích nghi với xu hướng xanh hóa. Tại Việt Nam, dầu khí là trụ cột đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, trong đó điểm cốt lõi là sự chuyển dịch năng lượng từ dầu sang khí tự nhiên (LNG) và năng lượng tái tạo ngoài khơi.
Nhiều dự án trọng điểm, trong đó dự án Lô B - Ô Môn tại Thành phố Cần Thơ đang được đẩy nhanh tiến độ để đón dòng khí đầu tiên vào cuối năm 2026, từ đó tạo động lực cho làn sóng đầu tư mới trong lĩnh vực năng lượng. Vì vậy, nhu cầu nhân lực đang chuyển dịch từ số lượng sang chất lượng cao, với yêu cầu người học ngành Kỹ thuật dầu khí phải có khả năng kết hợp giữa kiến thức địa chất/khoan truyền thống với công nghệ số (AI, Big Data) và kỹ năng về năng lượng mới như thu giữ carbon (CCS/CCUS) hay hydrogen.
Theo thầy Nhật, trong những năm trước, công tác tuyển sinh ngành Kỹ thuật địa chất và Kỹ thuật dầu khí của Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh gặp không ít thách thức. Điểm chuẩn có xu hướng giảm nhẹ do thí sinh lo ngại về tương lai của nhiên liệu hóa thạch và xu hướng ưu tiên ngành "hot" như IT hay AI. Tuy nhiên, trong 2 năm gần đây, đầu vào tuyển sinh đã có dấu hiệu hồi phục rõ rệt theo tình hình năng lượng chung của thế giới và chính sách năng lượng của quốc gia.
Tiến sĩ Võ Đại Nhật - Trưởng khoa, Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC.
Cơ hội việc làm rộng mở cả trong nước và quốc tế, thu nhập tới 40 triệu đồng/tháng
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Quang Duyến, khi nhắc tới ngành Kỹ thuật dầu khí, người học thường hình dung đến môi trường làm việc xa bờ, ngoài biển. Tuy nhiên, đây là một trong những ngành học người lao động thường xuyên được làm việc cùng chuyên gia quốc tế, tham gia vào dự án có quy mô lớn và tiếp cận với công nghệ hiện đại hàng đầu thế giới. Bên cạnh đó, ngành dầu khí còn cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho nhiều dự án trong và ngoài nước, với điều kiện làm việc đặc thù cùng mức thu nhập cao hơn mặt bằng chung của thị trường lao động.
Đối với sinh viên mới ra trường, mức thu nhập khởi điểm trong ngành dầu khí sẽ dao động khoảng từ 20-30 triệu đồng/tháng, tùy vị trí và tính chất công việc. Một số vị trí làm việc ngoài biển, thu nhập có thể tăng lên khoảng 40 triệu đồng/tháng nhờ vào các khoản phụ cấp đặc thù.
Sau quá trình tích lũy kinh nghiệm làm việc trong nước, nhiều kỹ sư dầu khí Việt Nam tham gia làm việc tại thị trường nước ngoài như Úc, Qatar, Ấn Độ, Malaysia… với mức lương cao hơn. Vì vậy, mức thu nhập trong ngành phụ thuộc lớn vào trình độ, năng lực và kinh nghiệm của người lao động.
"Việc làm trong ngành dầu khí hiện nay chủ yếu dựa trên hệ thống tự động hóa với công nghệ hiện đại, phần lớn các khâu sản xuất và vận hành đều được thực hiện thông qua máy móc, hệ thống điều khiển tự động. Chỉ một số vị trí liên quan đến công tác bảo trì, bảo dưỡng mới đòi hỏi lao động trực tiếp, phải làm ngoài biển", thầy Duyến nhấn mạnh.
Đánh giá về nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực dầu khí, Trưởng khoa, Khoa Dầu khí và Năng lượng, Trường Đại học Mỏ - Địa chất cho rằng lĩnh vực này hiện vẫn duy trì nhu cầu tuyển dụng ở mức khá cao.
Sau khi ra trường, người học có thể làm việc tại cả doanh nghiệp dầu khí trong và ngoài nước. Thực tế nhiều lao động sau một thời gian công tác trong nước thường tiếp tục tham gia các dự án ở nước ngoài. Qua đó tạo sự luân chuyển và bổ sung nguồn nhân lực thường xuyên cho doanh nghiệp dầu khí trong nước cũng như đơn vị nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.
Trong thời gian gần đây, việc phát hiện một số mỏ dầu khí mới có trữ lượng lớn ngoài khơi Việt Nam, cùng với dự án mỏ đang và sẽ được triển khai càng làm gia tăng nhu cầu nhân lực trong ngành dầu khí.
Không chỉ vậy, yêu cầu bảo đảm nguồn cung năng lượng phục vụ phát triển kinh tế trong giai đoạn công nghiệp hóa cũng cho thấy cơ hội việc làm trong thời gian tới sẽ rất rộng mở.
Trong khi đó, thầy Nhật cho rằng, quan niệm ngành dầu khí vất vả, phải lênh đênh trên biển chủ yếu xuất phát từ góc nhìn truyền thống. Hiện nay, nhiều đơn vị hoạt động trong lĩnh vực này như Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) hay Liên doanh Vietsovpetro đã áp dụng các tiêu chuẩn an toàn và điều kiện sinh hoạt theo chuẩn quốc tế trên giàn khoan, biến nơi làm việc giữa biển khơi thành những "thành phố thu nhỏ" với hệ thống tiện ích tương đối đầy đủ.
Thực tế, chỉ một số bộ phận vị trí yêu cầu làm việc trên giàn khoan, theo mô hình 2 tuần làm việc, 2 tuần nghỉ. Phần lớn lao động còn lại làm việc trên đất liền, tập trung vào các vị trí kỹ sư phân tích, thiết kế tại công ty dịch vụ dầu khí; kỹ sư giám sát, kiểm soát chất lượng tại phân xưởng sửa chữa, lắp ráp ở cảng; kỹ sư công nghệ mỏ, kỹ sư khoan - khai thác hoặc làm việc tại khu công nghiệp lọc - hóa dầu và cụm khí - điện - đạm.
Sau khi tốt nghiệp, sinh viên có thể đảm nhận đa dạng các vị trí như kỹ thuật viên, kỹ sư, chuyên viên trong ngành công nghiệp dầu khí, từ thượng nguồn (thăm dò, khoan, khai thác) đến trung nguồn (thu gom, xử lý, vận chuyển dầu khí) và hạ nguồn (chế biến dầu khí, cụm phức hợp khí - điện - đạm).
Về thu nhập, kỹ sư dầu khí thuộc nhóm ngành có mức lương cao tại Việt Nam. Sinh viên mới ra trường có thể nhận thu nhập từ 10 triệu đồng/tháng; với kỹ sư có trên 5 năm kinh nghiệm, mức lương phổ biến từ 30-40 triệu đồng/tháng trở lên.
Yêu cầu về nền tảng kỹ thuật vững chắc và ngoại ngữ là bắt buộc
Ngành Kỹ thuật dầu khí có nhu cầu tuyển dụng và mức thu nhập thuộc nhóm cao, tuy nhiên, thị trường lao động yêu cầu người học phải có nền tảng kỹ thuật vững, ngoại ngữ tốt và khả năng thích ứng nhanh với môi trường làm việc quốc tế.
Dưới góc nhìn của người học đã tốt nghiệp, anh Nguyễn Quốc Nam (sinh năm 1999), cựu sinh viên ngành Kỹ thuật dầu khí, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, hiện là kỹ sư vận hành khai thác dầu khí tại Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (Hà Nội) cho biết, khi bước vào môi trường làm việc thực tế, hệ thống thiết bị và quy trình vận hành tại doanh nghiệp có nhiều khác biệt so với kiến thức được tiếp cận trong quá trình học tập, cả về quy mô và cách thức vận hành. Tuy nhiên, nền tảng kiến thức chuyên môn và tư duy kỹ thuật được tích lũy trong quá trình học tập sẽ giúp người học nhanh chóng thích nghi, không bị bỡ ngỡ dù phải tiếp cận nhiều yếu tố mới.
Với nhà tuyển dụng, họ luôn đánh giá cao thái độ làm việc của sinh viên mới ra trường, thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, sự chủ động và khả năng thích nghi với môi trường làm việc. Bên cạnh đó, họ kỳ vọng người học được trang bị nền tảng kiến thức chuyên môn vững chắc, biết cách vận dụng kiến thức đã học vào yêu cầu cụ thể của từng vị trí công việc.
Theo anh Nam, ngành Kỹ thuật dầu khí có phạm vi khá rộng, với vị trí việc làm đa dạng. Bên cạnh công việc phải trực tiếp đi ra ngoài biển, người lao động có thể đảm nhiệm một số vị trí như phát triển mỏ, bảo trì, bảo dưỡng thiết bị hoặc công việc kỹ thuật khác trên đất liền. Tuy nhiên, với người theo học các lĩnh vực như khai thác hay khoan, việc ra hiện trường làm trực tiếp trên những công trình dầu khí ngoài biển là yêu cầu cần thiết, giúp nắm bắt quy trình vận hành, làm quen với hệ thống thiết bị và công nghệ, điều sách vở khó có thể phản ánh đầy đủ.
Sau khi tốt nghiệp, sinh viên có thể bắt đầu làm việc ở vị trí kỹ thuật cơ bản để tích lũy kinh nghiệm thực tế. Trong khoảng 2-3 năm đầu tiên, nên tham gia trực tiếp vào hoạt động vận hành, sản xuất tại công trình ngoài biển nhằm xây dựng nền tảng nghề nghiệp vững chắc. Từ đó, người lao động có điều kiện phát triển chuyên môn sâu hơn cũng như mở rộng cơ hội đảm nhiệm vị trí kỹ thuật cao trong ngành.
Đặc biệt, để nhanh chóng tìm kiếm công việc phù hợp, ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường ngoài kiến thức chuyên môn, sinh viên cần chú trọng rèn luyện một số kỹ năng như làm việc nhóm, giao tiếp. Đồng thời, cần nâng cao năng lực ngoại ngữ để đáp ứng yêu cầu công việc, thuận lợi trong trao đổi chuyên môn cũng như thích ứng với môi trường làm việc có yếu tố quốc tế.
Để theo đuổi ngành học này, Trưởng khoa, Khoa Dầu khí và Năng lượng, Trường Đại học Mỏ - Địa chất cho rằng, người học cần phải có nền tảng tốt ở các môn khoa học tự nhiên, đây là nhóm kiến thức giúp sinh viên tiếp cận kiến thức thuận lợi hơn trong quá trình học và làm việc sau này.
Ngoài ra, sinh viên cần phải có niềm yêu thích về tự động hóa và công nghệ, bởi đây là ngành học có mức tự động hóa rất cao. Nhiều công trình, thiết bị như các đầu giếng khai thác nằm sâu dưới đáy biển, con người không thể trực tiếp tiếp cận mà chủ yếu vận hành, giám sát từ xa thông qua hệ thống điều khiển và phần mềm.
Bên cạnh đó, đối với người học năng lực ngoại ngữ được xem là yêu cầu bắt buộc. Do đặc thù công việc gắn với môi trường có tính quốc tế cao nên sinh viên phải thành thạo ít nhất một loại ngoại ngữ như tiếng Anh hoặc tiếng Nga để có thể tham gia vào các dự án có tính chuyên môn cao.
Trong khi đó, Trưởng khoa, Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, để thành công trong ngành dầu khí, người học cần hội tụ đầy đủ ba yếu tố "Kiến thức - Kỹ năng - Thái độ". Trong đó, nền tảng kiến thức về STEM (Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật - Toán) phải vững chắc, đặc biệt là nền tảng về Toán học và Vật lý để giải quyết bài toán cơ học đá và dòng chảy trong môi trường rỗng hoặc tính toán về cân bằng vật chất, năng lượng trong vấn đề liên quan đến các quá trình xử lý, chế biến dầu khí.
Tiếp đó, người học phải có kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh. Đây là điều kiện bắt buộc vì hầu hết các tài liệu kỹ thuật cũng như môi trường làm việc trong ngành dầu khí đều sử dụng tiếng Anh. Bên cạnh đó, khả năng sử dụng các công cụ mô hình hóa, mô phỏng số cùng kỹ năng phân tích dữ liệu được xem là lợi thế lớn đối với người học.
Cuối cùng, cần có thể lực tốt và đức tính kiên trì, không ngại khó để nhanh chóng thích nghi với môi trường làm việc đặc thù trong ngành dầu khí như ngoài khơi hoặc ở các vùng biển xa.