Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng hơn 30 cơ sở giáo dục đại học tham gia đào tạo bác sĩ y khoa, hình thành mạng lưới đào tạo tương đối rộng khắp trên cả nước.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa giáo dục đại học, kiểm định chất lượng chương trình đào tạo bác sĩ y khoa ngày càng được coi là một tiêu chí then chốt nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo và năng lực hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, dữ liệu hiện có cho thấy hệ thống kiểm định đối với lĩnh vực đào tạo đặc thù này vẫn còn bộc lộ nhiều khoảng trống.
Hơn 30 cơ sở đào tạo bác sĩ y khoa, đa dạng về loại hình
Hoạt động đào tạo bác sĩ y khoa tại Việt Nam hiện không chỉ tập trung ở các trường công lập truyền thống chuyên đào tạo lĩnh vực y dược, mà đã mở rộng sang khối cơ sở giáo dục đại học tư thục và các trường đa ngành, đa lĩnh vực.
Cụ thể, cả nước hiện có khoảng 18 cơ sở giáo dục đại học chuyên đào tạo khối ngành sức khỏe, trong đó gồm 16 trường công lập và 2 trường tư. Nhóm trường công lập có lịch sử đào tạo lâu năm bao gồm Trường Đại học Y Hà Nội, Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội), Học viện Quân y, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Trường Đại học Y Dược (Đại học Huế), Trường Đại học Y Dược (Đại học Thái Nguyên), Trường Đại học Y Dược Cần Thơ… Hai cơ sở tư thục thuộc nhóm này là Trường Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột và Trường Đại học Phan Châu Trinh.
Bên cạnh đó, khoảng 17 cơ sở giáo dục đại học còn lại là các trường đa ngành có tham gia đào tạo bác sĩ y khoa, trong đó phần lớn là các trường tư; số cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc nhóm này hiện gồm Trường Đại học Tây Nguyên và Đại học Trà Vinh.
Các cơ sở giáo dục đại học tư thục tham gia đào tạo y khoa trong những năm gần đây gồm: Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, Trường Đại học Văn Lang, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, Đại học Duy Tân, Đại học Phenikaa, Trường Đại học VinUni, Trường Đại học Tân Tạo, Trường Đại học Yersin Đà Lạt, Trường Đại học Thành Đông, Trường Đại học Đại Nam, Trường Đại học Nam Cần Thơ, Trường Đại học Võ Trường Toản, Trường Đại học Kinh Bắc, Trường Đại học Đông Á và Trường Đại học Hòa Bình.
| Công lập | Tư thục | ||
| 1 | Trường Đại học Y Hà Nội | 19 | Trường Đại học Văn Lang |
| 2 | Trường Đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội) | 20 | Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội |
| 3 | Học viện Quân Y | 21 | Đại học Đại Nam |
| 4 | Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam | 22 | Trường Đại học Tân Tạo |
| 5 | Trường Đại học Y Dược Thái Bình | 23 | Đại học Phenikaa |
| 6 | Trường Đại học Y Dược (Đại học Thái Nguyên) | 24 | Trường Đại học Phan Châu Trinh |
| 7 | Trường Đại học Y Dược Hải Phòng | 25 | Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng |
| 8 | Trường Y Dược (Đại học Đà Nẵng) | 26 | Đại học Duy Tân |
| 9 | Trường Đại học Y Dược (Đại học Huế) | 27 | Trường Đại học VinUni |
| 10 | Trường Đại học Y khoa Vinh | 28 | Trường Đại học Yersin Đà Lạt |
| 11 | Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng | 29 | Trường Đại học Võ Trường Toản |
| 12 | Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương | 30 | Trường Đại học Nam Cần Thơ |
| 13 | Trường Đại học Y Dược TP.HCM | 31 | Trường Đại học Kinh Bắc |
| 14 | Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch | 32 | Trường Đại học Đông Á |
| 15 | Trường Đại học Y Dược Cần Thơ | 33 | Trường Đại học Hòa Bình |
| 16 | Trường Đại học Khoa học Sức khỏe (Đại học Quốc gia TP.HCM) | 34 | Trường Đại học Nguyễn Tất Thành |
| 17 | Trường Đại học Tây Nguyên | 35 | Trường Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột |
| 18 | Đại học Trà Vinh | ||
Việc ngày càng nhiều cơ sở giáo dục đại học tư thục và các trường đa lĩnh vực tham gia đào tạo bác sĩ y khoa phản ánh xu hướng mở rộng đào tạo trong lĩnh vực y tế, đồng thời cũng cho thấy nhu cầu lớn về nhân lực y tế.
Theo Quyết định 869/QĐ-BYT ngày 08/4/2024 phê duyệt Đề án phát triển nhân lực y tế đến năm 2030, định hướng 2050, Bộ Y tế đặt ra mục tiêu phát triển nhân lực y tế đủ về số lượng, có cơ cấu và phân bố hợp lý, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, và một số chuyên ngành kém thu hút, khó tuyển.
Cùng với yêu cầu mở rộng quy mô, Đề án cũng nhấn mạnh nhiệm vụ nâng cao chất lượng chuyên môn, y đức, năng lực quản lý và hiệu quả sử dụng nhân lực y tế, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Bộ Y tế cũng đặt ra các chỉ tiêu cụ thể về mật độ bác sĩ, với mục tiêu đến năm 2030 đạt 19 bác sĩ trên 10.000 dân và đến năm 2050 đạt 35 bác sĩ trên 10.000 dân.
Quy mô tuyển sinh lớn, điểm chuẩn phân tầng rõ rệt
Hằng năm, các cơ sở đào tạo bác sĩ y khoa tuyển sinh với quy mô từ vài chục đến trên 1.000 chỉ tiêu. Chương trình đào tạo kéo dài 6 năm, mức học phí có sự chênh lệch đáng kể giữa các cơ sở, đặc biệt giữa khối công lập và tư thục.
Theo quy định hiện hành, các cơ sở đào tạo bác sĩ y khoa, không phân biệt công lập hay tư thục, đều phải đáp ứng ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Năm 2025, ngưỡng này đối với nhóm ngành sức khỏe có cấp chứng chỉ hành nghề dao động từ 17 đến 20.5 điểm, trong đó ngành Y khoa có mức ngưỡng cao nhất là 20.5 điểm.
Dữ liệu tuyển sinh cho thấy sự phân tầng khá rõ rệt về điểm chuẩn đầu vào giữa các cơ sở đào tạo. Ở khối công lập, đặc biệt là các trường y dược đầu ngành và các trường thuộc đại học quốc gia, điểm chuẩn tuyển sinh ngành bác sĩ y khoa phổ biến trong khoảng từ 25 đến trên 28 điểm; cá biệt có trường hợp đạt tới 30 điểm đối với một số đối tượng tuyển sinh.
Trong khi đó, tại khối tư thục, mặt bằng điểm chuẩn ngành bác sĩ y khoa nhìn chung thấp hơn rõ rệt và tập trung chủ yếu ở mức ngưỡng sàn 20,5 điểm. Ngoại trừ một số cơ sở có điểm chuẩn nhỉnh hơn, phần lớn các trường tư thục có mức điểm đầu vào thấp hơn khoảng 3-7 điểm so với nhóm trường công lập dẫn đầu.
Nhóm 1: Các cơ sở đào tạo bác sĩ y khoa công lập (thống kê điểm chuẩn, chỉ tiêu tuyển sinh năm 2025)
| STT | Tên trường | Chỉ tiêu | Điểm chuẩn (theo phương thức xét kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông 2025) |
| 1 | Trường Đại học Y Hà Nội | 530 | Hà Nội: 28,13; Phân hiệu Thanh Hóa: 25,80 |
| 2 | Trường Đại học Y Dược TP.HCM | 420 | 27,34 |
| 3 | Trường Đại học Y Dược (ĐHQG Hà Nội) | 260 | 27,43 |
| 4 | Học viện Quân y | 140 | Miền Bắc: nam 27,94; nữ 30,00 – Miền nam: nam 27,71; nữ 29,03 |
| 5 | Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch | 790 | 25,55 |
| 6 | Trường ĐH Khoa học Sức khỏe (ĐHQG TP.HCM) | 410 | 25,6 |
| 7 | Trường Đại học Y Dược (ĐH Huế) | 440 | 25,17 |
| 8 | Trường Y Dược (ĐH Đà Nẵng) | 200 | 23 |
| 9 | Trường Đại học Y Dược (ĐH Thái Nguyên) | 600 | 25,85 |
| 10 | Trường Đại học Y Dược Thái Bình | 650 | 24,6 |
| 11 | Trường Đại học Y Dược Hải Phòng | 620 | 25,33 |
| 12 | Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương | 120 | 23,8 |
| 13 | Trường Đại học Y Dược Cần Thơ | 1.130 | 23,88 |
| 14 | Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam | 250 | 24,25 |
| 15 | Trường Đại học Y khoa Vinh | 450 | 22,1 |
| 16 | Trường Đại học Kỹ thuật Y – Dược Đà Nẵng | 250 | 22,85 |
| 17 | Trường Đại học Tây Nguyên | 300 | 21,76 |
| 18 | Đại học Trà Vinh | 250 | 21,25 |
Nhóm 2: Các cơ sở giáo dục đại học tư thục đào tạo bác sĩ y khoa (thống kê điểm chuẩn, chỉ tiêu tuyển sinh năm 2025)
| STT | Tên trường | Chỉ tiêu | Điểm chuẩn (theo phương thức xét kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông 2025) |
| 1 | Trường Đại học Y Dược Buôn Ma Thuột | 650 | 22 |
| 2 | Trường Đại học Phan Châu Trinh | 160 | 21,5 |
| 3 | Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội | 140 | 20,5 |
| 4 | Trường Đại học Văn Lang | 50 | 20,5 |
| 5 | Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng | 330 | 20,5 |
| 6 | Trường Đại học Nguyễn Tất Thành | Không công bố (2024: 630) | 20,5 |
| 7 | Đại học Duy Tân | Không công bố (2024: 200) | 20,5 |
| 8 | Đại học Phenikaa | 200 | 22,5 |
| 9 | Trường Đại học VinUni | 130 | Tuyển sinh theo đề án riêng của trường |
| 10 | Trường Đại học Tân Tạo | 1.000 | 20,5 |
| 11 | Trường Đại học Yersin Đà Lạt | 50 | 20,5 |
| 12 | Trường Đại học Đại Nam | 415 (315 chỉ tiêu cho sinh viên Việt Nam, 100 chỉ tiêu cho sinh viên Ấn Độ) | 20,5 |
| 13 | Trường Đại học Võ Trường Toản | 1.149 | 20,5 |
| 14 | Trường Đại học Đông Á | Không công bố | 20,5 |
| 15 | Trường Đại học Hòa Bình | 379 | 20,5 |
| 16 | Trường Đại học Kinh Bắc | 100 (2024) | 22,5 (2024) |
Bên cạnh điểm chuẩn, chỉ tiêu tuyển sinh giữa các cơ sở cũng có sự chênh lệch lớn, dao động từ vài chục đến trên 1.000 chỉ tiêu mỗi năm. Sự khác biệt này đặt ra yêu cầu tương xứng về năng lực bảo đảm chất lượng đào tạo, đặc biệt trong bối cảnh đào tạo y khoa đòi hỏi cường độ thực hành cao và hệ thống bảo đảm chất lượng chặt chẽ khi quy mô tuyển sinh mở rộng nhanh.
Kiểm định đào tạo bác sĩ y khoa: mới 51,4% chương trình đạt chuẩn
Trong khi quy mô đào tạo bác sĩ y khoa không ngừng mở rộng, bức tranh kiểm định chất lượng lại cho thấy nhiều vấn đề đáng lưu ý. Theo số liệu tổng hợp của Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), tính đến ngày 31/12/2025, trong số khoảng 35 chương trình đào tạo bác sĩ y khoa đang triển khai, mới có 18 chương trình được đánh giá và công nhận đạt chuẩn kiểm định chất lượng, tương đương khoảng 51,4%.
Trong số các chương trình đã được kiểm định, 3 chương trình được đánh giá theo chuẩn AUN-QA (Mạng lưới các trường đại học ASEAN), trong khi 15 chương trình còn lại thực hiện kiểm định theo bộ tiêu chuẩn trong nước do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Đây đều là các bộ tiêu chuẩn kiểm định chung, áp dụng cho nhiều lĩnh vực đào tạo khác nhau, chưa phải là bộ tiêu chuẩn chuyên biệt dành riêng cho giáo dục y khoa.
Như vậy, hệ thống đào tạo bác sĩ y khoa tại Việt Nam đang phát triển nhanh về quy mô và đa dạng về loại hình cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, xét trên phương diện kiểm định chất lượng, số lượng chương trình được đánh giá vẫn còn hạn chế và chủ yếu dựa trên các bộ tiêu chuẩn kiểm định chung, trong khi hệ thống kiểm định y khoa chuyên biệt theo chuẩn quốc tế vẫn chưa được thiết lập.
Yêu cầu bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực y tế cũng đã được đặt ra rõ ràng trong khuôn khổ pháp lý mới. Theo Luật Giáo dục đại học năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2026), các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe, cùng với đào tạo giáo viên và pháp luật, được xác định là nhóm ngành bắt buộc thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục định kỳ.
Trong khi đó, Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế trong đào tạo nhân lực y tế. Thực tiễn này cho thấy nhu cầu cấp thiết phải hoàn thiện cơ chế bảo đảm và kiểm định chất lượng chương trình đào tạo bác sĩ y khoa, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế của giáo dục y khoa Việt Nam.