Đột phá ở Luật 125/2025/QH15: Lấy hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong là ưu tiên tiên quyết

24/02/2026 06:23
Doãn Nhàn

GDVN -Theo chuyên gia, điểm cốt lõi của Luật Giáo dục đại học năm 2025 là sự chuyển dịch từ tư duy “đánh giá chất lượng” sang “bảo đảm chất lượng”.

Trong những năm qua, yêu cầu bảo đảm chất lượng giáo dục đại học, trong đó có việc xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong (Internal Quality Assurance - IQA), đã từng bước được xác lập trong khuôn khổ pháp luật và các văn bản hướng dẫn.

Từ chỗ chủ yếu mang tính định hướng, khuyến nghị, đến Luật Giáo dục đại học năm 2025 (Luật số 125/2025/QH15), các quy định về hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong tiếp tục được làm rõ hơn về vai trò, phạm vi và cách thức vận hành, nhấn mạnh trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện, giám sát và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong theo tiêu chuẩn chất lượng trong nước hoặc quốc tế.

Bảo đảm chất lượng là gốc, kiểm định là cơ chế bên ngoài

image.png
Nhà giáo Nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Chính - nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: VNU

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Nhà giáo Nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Chính - nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, yêu cầu xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong (Internal Quality Assurance - IQA) thực chất không phải là vấn đề mới, mà đã được đặt ra từ khá sớm trong chính sách giáo dục đại học ở Việt Nam. Luật Giáo dục đại học năm 2025, theo Giáo sư Nguyễn Đức Chính, chủ yếu là sự khẳng định lại yêu cầu bắt buộc phải xây dựng hệ thống này, đồng thời làm rõ hơn cách tiếp cận và nội hàm của bảo đảm chất lượng.

“Tuy nhiên, điểm mới và cũng là điểm rất quan trọng của Luật Giáo dục đại học năm 2025 nằm ở chỗ chuyển mạnh từ tư duy “đánh giá chất lượng” sang tư duy “bảo đảm chất lượng”. Trước đây, chúng ta chủ yếu nói đến đánh giá, kiểm định, trong khi chưa thực sự coi bảo đảm chất lượng là nền tảng. Đây là một nhận thức rất cách mạng, phù hợp với xu thế chung của thế giới”, Giáo sư Nguyễn Đức Chính nhấn mạnh.

Theo phân tích của Giáo sư Chính, “chất lượng” tự thân là một khái niệm trừu tượng, không thể nhìn thấy hay cầm nắm. Điều con người có thể quan sát và kiểm chứng được chính là hệ thống bảo đảm chất lượng.

“Không ai trông thấy “chất lượng” một cách trực tiếp, mà chỉ có thể trông thấy bảo đảm chất lượng. Chỉ khi có một hệ thống bảo đảm chất lượng rõ ràng thì mới có cơ sở để xã hội thừa nhận một cơ sở giáo dục là có chất lượng”, Giáo sư Nguyễn Đức Chính nói.

Từ cách tiếp cận này, Giáo sư Nguyễn Đức Chính cho rằng, để được công nhận là có chất lượng, mỗi cơ sở giáo dục đại học bắt buộc phải xây dựng và vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, trên cơ sở các bộ tiêu chuẩn trong nước hoặc quốc tế. “Đây chính là điều quan trọng nhất mà Luật Giáo dục đại học năm 2025 đã làm được”, Giáo sư đánh giá.

Theo đó, hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong có chức năng định hướng, hướng dẫn và kiểm soát toàn bộ hoạt động của cơ sở giáo dục đại học theo các bộ chuẩn đã lựa chọn, hướng tới mục tiêu đạt chuẩn và được công nhận đạt chuẩn. Trong khi đó, kiểm định chất lượng đóng vai trò là cơ chế bên ngoài, có nhiệm vụ đánh giá hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, góp ý hoàn thiện hệ thống và cải tiến cách vận hành, qua đó nâng cao chất lượng.

Tuy nhiên, thách thức lớn hiện nay, theo Giáo sư Nguyễn Đức Chính, nằm ở khâu triển khai. Thực tế cho thấy, nhiều cơ sở giáo dục đại học hiện vẫn lúng túng khi triển khai hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, bởi chưa hình dung rõ “hệ thống” này là gì để có thể xây dựng một cách bài bản. Trong khi đó, hoạt động đánh giá, kiểm định lại đang chủ yếu dựa trên việc thu thập minh chứng.

“Đánh giá không phải là đánh giá minh chứng, mà là đánh giá hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong. Muốn đánh giá được thì trước hết phải xây dựng và vận hành hệ thống ấy. Nếu chưa có hệ thống mà đã đi đánh giá thì sẽ rơi vào một vòng luẩn quẩn”, Giáo sư Nguyễn Đức Chính nhận định.

Từ thực tiễn đó, Giáo sư Nguyễn Đức Chính cho rằng, cần sớm có các hướng dẫn mang tính khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, đồng thời chuyển trọng tâm đánh giá từ sự tồn tại của minh chứng sang quá trình hình thành và vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học, tức là đánh giá cách thức tạo ra minh chứng, chứ không chỉ kiểm tra sự tồn tại của minh chứng.

IQA không chỉ là một bộ phận, mà là trách nhiệm của toàn hệ thống

ed5adb4307288976d039.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Hảo - Cố vấn Hội đồng trường/Ban Giám hiệu Trường Đại học Quốc tế Miền Đông. Ảnh: LVH

Ở góc nhìn pháp lý gắn với triển khai thực tiễn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Hảo - Cố vấn Hội đồng trường/Ban Giám hiệu Trường Đại học Quốc tế Miền Đông cho rằng, việc Luật Giáo dục đại học năm 2025 tiếp tục làm rõ địa vị pháp lý của hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, không phải là một thay đổi đột ngột, mà là bước tiếp nối của một quá trình hình thành kéo dài hơn một thập niên.

Theo Phó Giáo sư Lê Văn Hảo, ngay từ Luật Giáo dục đại học năm 2012, “bảo đảm chất lượng” đã được xác định là nhiệm vụ của các cơ sở giáo dục đại học (khoản 2, Điều 28). Yêu cầu xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong (IQA) được xác lập rõ ràng hơn tại Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT và tiếp đó được luật hóa trong Luật Giáo dục đại học năm 2018. Luật Giáo dục đại học năm 2025 tiếp tục làm rõ chức năng của hệ thống IQA, các yếu tố cấu thành và giao trách nhiệm trực tiếp cho các cơ sở giáo dục đại học trong việc “xây dựng, vận hành, giám sát, phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong theo tiêu chuẩn chất lượng trong nước hoặc quốc tế” (khoản 3, Điều 33).

“Từ góc độ pháp lý, nghĩa vụ xây dựng và phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong đối với các cơ sở giáo dục đại học đã được đặt ra từ năm 2012 và được cụ thể hóa dần qua các lần sửa đổi Luật. Luật Giáo dục đại học năm 2025 tiếp tục làm rõ hơn yêu cầu và trách nhiệm trong tổ chức thực hiện”, Phó Giáo sư Lê Văn Hảo nhận định.

Tuy nhiên, theo quan sát từ thực tiễn tư vấn, đánh giá và đồng hành cùng nhiều cơ sở giáo dục đại học, thầy Hảo cho rằng bức tranh triển khai hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục ở nước ta hiện nay vẫn chưa đồng đều. Không ít cơ sở giáo dục đại học còn vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng theo hướng nặng về hình thức, thậm chí lúng túng trong việc thiết lập và vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong một cách thực chất.

bieu-do.png

Dẫn thống kê của Cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Phó Giáo sư Lê Văn Hảo cho biết, đến ngày 31/8/2025 có 96,3% cơ sở giáo dục đại học đã thành lập đơn vị chuyên trách về bảo đảm chất lượng, với tên gọi và quy mô khác nhau. Nhiều cơ sở đồng thời thành lập hội đồng bảo đảm chất lượng cấp trường, đầu mối hoặc cán bộ phụ trách bảo đảm chất lượng tại các đơn vị chuyên môn.

“Tuy nhiên, ở không ít nơi, hệ thống tổ chức này lại được xem như toàn bộ hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong của nhà trường. Điều này dẫn đến cách hiểu chưa đầy đủ, thậm chí nhầm lẫn, khi coi bảo đảm chất lượng bên trong là trách nhiệm riêng của đơn vị chuyên trách về bảo đảm chất lượng”, thầy Hảo phân tích.

Theo đó, hệ quả là hoạt động quản trị và quản lý chung của cơ sở giáo dục đại học chưa thực sự gắn kết với hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong; một số đơn vị chuyên môn vẫn tồn tại tâm lý “thoái thác” trách nhiệm trong công tác bảo đảm chất lượng; đội ngũ giảng viên chưa nhìn thấy mối liên hệ trực tiếp giữa hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong với việc cải tiến hoạt động dạy và học.

“Nói cách khác, bảo đảm chất lượng bên trong đang bị “ủy quyền” cho một bộ phận, thay vì được nhìn nhận là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống”, thầy Hảo nhấn mạnh.

Sinh viên Trường đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội trong giờ học thực hành. Ảnh: UET
Sinh viên Trường đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội trong giờ học thực hành. Ảnh: UET

Chia sẻ thêm kinh nghiệm quốc tế, Phó Giáo sư Lê Văn Hảo dẫn lại định nghĩa của AUN-QA trong Manual for the Implementation of the AUN-QA Guidelines (2010). Theo đó, hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong được hiểu là “tổng thể các hệ thống, nguồn lực và thông tin dành cho việc thiết lập, duy trì và nâng cao chất lượng và tiêu chuẩn giảng dạy, học thuật (trải nghiệm học tập của sinh viên), nghiên cứu và phục vụ cộng đồng”.

“So với tinh thần này, cách diễn đạt trong Luật Giáo dục đại học năm 2025 hiện vẫn còn thiên về việc nhấn mạnh vai trò của “đơn vị hoặc bộ phận chuyên trách”, trong khi chưa làm rõ đầy đủ trách nhiệm của toàn bộ hệ thống quản trị và đội ngũ”, Phó Giáo sư Lê Văn Hảo nhận định, đồng thời cho rằng đây là vấn đề cần tiếp tục được làm rõ hơn trong các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật.

Theo Phó Giáo sư Lê Văn Hảo, về bản chất, văn hoá chất lượng của một tổ chức có thể được hiểu là tổng thể các giá trị, niềm tin, chuẩn mực và thực hành được chia sẻ, trong đó chất lượng và cải tiến liên tục được xem là trách nhiệm chung của toàn tổ chức, được lãnh đạo định hướng và hệ thống quản trị hỗ trợ, nhằm đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của các bên liên quan.

Văn hóa chất lượng chỉ thực sự hình thành khi các đơn vị và cá nhân không dừng lại ở việc “làm đúng quy trình”, mà chủ động hợp tác, cải tiến chất lượng một cách liên tục và bền vững trong hoạt động dạy học, nghiên cứu và phục vụ cộng đồng.

Từ kinh nghiệm quốc tế, thầy Hảo cho rằng việc hình thành văn hóa chất lượng cần đi theo một lộ trình có chủ đích, kết hợp đồng thời vai trò của lãnh đạo, hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, con người và thực hành hằng ngày.

Trọng tâm có thể bắt đầu từ cam kết và nêu gương của lãnh đạo; thiết lập hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong phù hợp với bối cảnh từng cơ sở; phát triển năng lực và nhận thức về chất lượng cho đội ngũ; chuyển từ tư duy “làm đúng quy trình” sang cải tiến liên tục dựa trên dữ liệu; đồng thời gắn chất lượng với cơ chế động lực, ghi nhận và phát triển nghề nghiệp.

“Nói tóm lại, văn hóa chất lượng không thể tách rời khỏi hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, không thể áp đặt bằng mệnh lệnh và cũng không thể hình thành một cách tức thì. Văn hóa chất lượng chỉ có thể được “nuôi dưỡng” thông qua một hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong vận hành thực chất, nơi mỗi cá nhân vừa nhận diện rõ trách nhiệm của mình, vừa thấy được lợi ích trực tiếp từ hoạt động cải tiến chất lượng”, Phó Giáo sư Lê Văn Hảo nhấn mạnh.

Trong bối cảnh Luật Giáo dục đại học năm 2025 điều chỉnh cách tiếp cận kiểm định chất lượng, theo hướng chỉ thực hiện kiểm định định kỳ đối với một số ngành đào tạo đặc thù (Điều 36), Phó Giáo sư Lê Văn Hảo kỳ vọng các cơ sở giáo dục đại học sẽ có thêm thời gian và tập trung được nhiều nguồn lực hơn để đầu tư chiều sâu cho hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, qua đó xây dựng văn hóa chất lượng một cách bền vững.

Doãn Nhàn