Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản gửi các Bộ, ngành, địa phương về định hướng sắp xếp, tổ chức lại hệ thống các cơ sở giáo dục đại học.
Theo Bộ, việc sắp xếp phải phù hợp quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học do Chính phủ phê duyệt. Các tiêu chí gồm: mức độ đáp ứng chuẩn cơ sở giáo dục và điều kiện duy trì ngành; cơ cấu ngành, lĩnh vực đào tạo; khả năng phục vụ chức năng quản lý nhà nước; tính thiết yếu của ngành đào tạo; và tính đặc thù đối với các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, y tế, văn hóa - thể thao.
Nhiều chuyên gia giáo dục khẳng định đó là định hướng tất yếu, nhưng cần đặt trọng tâm vào việc đo lường minh bạch, khách quan. Đây cũng là một trong những hoạt động đánh dấu bước ngoặt lớn của giáo dục đại học Việt Nam trong năm 2026.
Việc sắp xếp sẽ dễ rơi vào hình thức, tạo xáo trộn không cần thiết nếu thiếu tầm nhìn dài hạn
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo), nhận định rằng việc sắp xếp, tổ chức lại hệ thống các cơ sở giáo dục đại học hiện nay không còn là một phương án lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu.
Theo đó, quá trình tái cấu trúc cần tập trung tháo gỡ ba “điểm nghẽn” lớn, gồm: khắc phục tình trạng lãng phí nguồn lực; sắp xếp lại ngành nghề và quy mô đào tạo theo hướng hợp lý hơn; đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo một cách đồng bộ, nhằm hiện thực hóa mục tiêu đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW.
Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh cho biết, các tiêu chí sắp xếp, tổ chức lại hệ thống các cơ sở giáo dục đại học mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra là khá toàn diện và phù hợp, song vấn đề then chốt nằm ở cách cụ thể hóa và triển khai.
Mỗi tiêu chí cần được lượng hóa rõ ràng, gắn với những chỉ báo cụ thể về đội ngũ, cơ sở vật chất, năng lực quản trị, hiệu quả đào tạo và đóng góp xã hội, từ đó phân loại được đâu là những điểm yếu có thể khắc phục, đâu là những hạn chế mang tính “không thể cứu vãn” để buộc phải sắp xếp lại.
“Trong bối cảnh đẩy mạnh tự chủ đại học, việc sắp xếp lại là cần thiết nhằm khắc phục tình trạng manh mún, đầu tư dàn trải, song phải đồng thời gắn với một chiến lược phát triển rõ ràng cho từng cơ sở sau sáp nhập. Không thể chỉ cộng cơ học các đơn vị lại với nhau mà không biết sẽ phát triển theo hướng nào, bởi như vậy rất khó đạt được hiệu quả thực chất.
Việc đánh giá các tiêu chí, đặc biệt là những chỉ số như quy mô tuyển sinh, tỷ lệ việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp, cũng cần được xem xét thận trọng, bởi đầu ra việc làm không chỉ phụ thuộc vào chất lượng đào tạo mà còn chịu tác động mạnh từ bối cảnh kinh tế - xã hội.
Để quá trình tái cấu trúc đạt hiệu quả và hạn chế hệ lụy, tôi cho rằng cần đặt trọng tâm vào việc đo lường tính minh bạch, khách quan. Trước hết, hệ thống tiêu chí phải rõ ràng, có ngưỡng đánh giá cụ thể để làm căn cứ ra quyết định.
Ngoài ra, dữ liệu phải trung thực, đầy đủ và được kiểm chứng độc lập thông qua cơ chế giám sát, phản biện, tránh tình trạng “làm đẹp” số liệu. Việc phân nhóm, xếp hạng các trường cũng nên được thực hiện một cách khoa học, hạn chế tối đa cách làm mang nặng tính mệnh lệnh hành chính, áp đặt cơ học.
Bên cạnh đó, cần đặc biệt lưu ý tới yêu cầu xây dựng chiến lược phát triển hậu sáp nhập, gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, địa phương. Sáp nhập không chỉ nhằm “gọn đầu mối” mà phải hướng tới nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo.
Nếu thiếu một tầm nhìn dài hạn, việc sắp xếp sẽ dễ rơi vào hình thức, thậm chí tạo ra những xáo trộn không cần thiết”, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo) bày tỏ.
Ngoài ra, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh cũng chỉ ra một số rủi ro có thể phát sinh nếu quá trình sắp xếp thiếu thận trọng, như làm suy giảm quyền tự chủ đại học, tạo áp lực di chuyển đối với giảng viên, ảnh hưởng tới tâm lý và lựa chọn của người học, gián đoạn các chương trình hợp tác quốc tế do thay đổi thương hiệu và tư cách pháp nhân.
Vì vậy, theo ông, cần có các chính sách hỗ trợ đi kèm, cơ chế đối thoại và phản biện rộng rãi, cũng như những giải pháp linh hoạt để giảm thiểu tác động tiêu cực, bảo đảm quá trình tái cấu trúc diễn ra thận trọng, đồng thuận và bền vững.
Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học phải gắn chặt với chiến lược phát triển nhân lực dài hạn
Chia sẻ kỳ vọng vào việc thực hiện quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học thời gian tới, bà Tăng Thị Ngọc Mai - nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Trà Vinh (cũ), Đại biểu Quốc hội khóa XIV cho rằng việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị cần được tính toán trên cơ sở chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho 5-10 năm tới và tầm nhìn dài hạn hơn, bảo đảm đáp ứng nhu cầu của địa phương, vùng, cả nước và hướng tới hội nhập khu vực, quốc tế.
Theo bà Ngọc Mai, thời gian qua, hệ thống cơ sở giáo dục đại học phát triển nhanh về số lượng nhưng chưa tương xứng về chất lượng, dẫn tới tình trạng trùng lặp ngành đào tạo, chỉ tiêu tuyển sinh không gắn với nhu cầu thực tiễn, gây lãng phí lớn cho xã hội.
Nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học, thậm chí sau đại học, vẫn không tìm được việc làm phù hợp, phải làm công việc giản đơn, vừa lãng phí nguồn lực, vừa đánh mất thời gian và cơ hội của người học. Từ thực tế đó, bà Mai nhấn mạnh ba nhóm giải pháp then chốt.
Thứ nhất, quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học phải gắn chặt với chiến lược phát triển quốc gia và từng ngành, xác định rõ các lĩnh vực mũi nhọn, nhu cầu nhân lực trọng điểm trong tương lai để xây dựng khung đào tạo phù hợp, tránh dàn trải, chồng chéo.
Thứ hai, cần tăng cường công tác định hướng nghề nghiệp cho học sinh thông qua một cơ quan độc lập, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời về nhu cầu thị trường lao động trong 5-10 năm tới, được công bố rộng rãi trên các kênh truyền thông và cổng thông tin điện tử Chính phủ, giúp phụ huynh và học sinh lựa chọn ngành nghề sát thực tế, bảo đảm đầu ra có việc làm.
Thứ ba, phải đẩy mạnh liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, nhất là trong khâu thực hành, thực tập có trả lương, để sinh viên được rèn luyện kỹ năng, nâng cao năng lực làm việc và sớm thích ứng với thị trường lao động.
Cùng với đó, bà Mai nhấn mạnh cần đổi mới mạnh mẽ mô hình đào tạo đại học theo hướng mở, linh hoạt, tận dụng thành tựu khoa học - công nghệ, phát triển các hình thức học tập đa dạng, học mọi lúc, mọi nơi, gắn chặt với năng lực thực hành và hiệu quả lao động, thay vì quá nặng về bằng cấp hình thức.
Đồng thời, Nhà nước cần có chính sách đầu tư trọng điểm cho một số trường đại học hạt nhân, xây dựng các trung tâm đào tạo chất lượng cao, liên kết chặt chẽ với các cơ sở đào tạo uy tín quốc tế, nhằm hình thành đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, đủ sức dẫn dắt, lan tỏa và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho cả nước.
“Chỉ khi được triển khai bài bản, đồng bộ, có tầm nhìn dài hạn và vượt qua tư duy nhiệm kỳ, công tác quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học mới thực sự nâng cao chất lượng đào tạo, giảm lãng phí và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước”, nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Trà Vinh (cũ) cho hay.
Đồng quan điểm, Tiến sĩ Lê Đông Phương - nguyên cán bộ Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho rằng, việc sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục đại học là cần thiết, hướng tới xây dựng một hệ thống vừa mang tính đại học đúng nghĩa, vừa đáp ứng yêu cầu chất lượng và nhu cầu phát triển của xã hội.
Vị chuyên gia khẳng định, sự can thiệp của Nhà nước không mâu thuẫn với tinh thần tự chủ đại học, mà là yếu tố cần thiết để bảo đảm hệ thống vận hành lành mạnh.
Đặc biệt với các cơ sở công lập, có sứ mệnh phục vụ giáo dục toàn dân vì lợi ích chung đòi hỏi Nhà nước phải đóng vai trò “nhạc trưởng”, điều tiết khi hệ thống phát triển lệch hướng, thông qua các chuẩn mực, tiêu chí về chất lượng, hạ tầng, đội ngũ, cũng như chính sách đầu tư có trọng điểm.
Đồng thời, căn cứ vào nhu cầu xã hội, Nhà nước cần ưu tiên nguồn lực cho các lĩnh vực then chốt như công nghệ cao, khoa học cơ bản, thậm chí thông qua học bổng và cơ chế tài chính đặc thù để thu hút người học.
Về rào cản tâm lý liên quan đến thương hiệu khi sắp xếp, sáp nhập các trường, Tiến sĩ Lê Đông Phương cho rằng việc bảo vệ uy tín, truyền thống của những cơ sở có bề dày lịch sử và đóng góp xã hội là cần thiết.
Tuy nhiên, với những trường hoạt động kém hiệu quả, chất lượng thấp, việc tổ chức lại, thậm chí giải thể, cũng cần được cân nhắc thẳng thắn để bảo đảm hiệu quả chung của hệ thống.
“Giáo dục đại học vốn là một hệ thống luôn biến động theo thị trường lao động và nhu cầu xã hội. Việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở nếu dựa trên chuẩn chất lượng và tính toán cung - cầu hợp lý, sẽ không làm gia tăng bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, bởi tổng chỉ tiêu tuyển sinh hằng năm vẫn còn dư địa đáng kể.
Không những vậy, yêu cầu bảo đảm cơ hội học tập cho người học ở các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa cũng rất quan trọng. Theo đó, quy hoạch không chỉ là “thu gọn” mà còn bao hàm định hướng đầu tư, mở rộng hoặc nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo tại những khu vực như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, nhằm tạo điều kiện cho người học được đào tạo tại chỗ và quay trở lại phục vụ địa phương.
Sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục đại học phải là một quá trình đa chiều, vừa nâng cao chất lượng, vừa bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học”, Tiến sĩ Lê Đông Phương nhấn mạnh.
5 tiêu chí xác định trường thuộc diện phải sắp xếp, tổ chức lại
1. Mức độ đáp ứng các điều kiện và đạt chuẩn: Các cơ sở giáo dục không đảm bảo điều kiện thành lập theo quy định của pháp luật hiện hành hoặc các ngành đào tạo không đảm bảo điều kiện mở ngành, duy trì ngành đào tạo. Ngoài ra nghiên cứu sắp xếp, tổ chức lại đối với trường không đảm bảo chuẩn cơ sở giáo dục đại học.
2. Ngành và lĩnh vực đào tạo: Cơ sở đào tạo và nghiên cứu nhiều lĩnh vực, phục vụ phát triển nhiều ngành kinh tế - xã hội nhưng tỉ trọng quy mô đào tạo, thành tích nghiên cứu trong một lĩnh vực rất nhỏ (trừ khối ngành quốc phòng và an ninh, sức khỏe và nghệ thuật). Tiến tới giảm số lượng cơ sở đào tạo đơn ngành.
3. Tính phục vụ chức năng quản lý nhà nước: Lĩnh vực đào tạo không phục vụ đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ chức năng quản lý nhà nước, hoạt động nghề nghiệp đặc thù, có tính riêng biệt, phức tạp cao, chuyên môn sâu của bộ, ngành, địa phương quản lý trực tiếp cơ sở.
4. Tính thiết yếu: Lĩnh vực đào tạo của cơ sở giáo dục không đóng vai trò thiết yếu (không thể thay thế) đối với việc hỗ trợ thực hiện chức năng quản lý nhà nước, hoạt động nghề nghiệp đặc thù, có tính riêng biệt, phức tạp cao, chuyên môn sâu của bộ, ngành, địa phương quản lý trực tiếp cơ sở giáo dục hoặc lĩnh vực đào tạo không thể tuyển sinh, xã hội không có nhu cầu.
5. Tính đặc thù: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tự rà soát và quyết định phương án, lộ trình sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục trực thuộc phù hợp với yêu cầu của đơn vị, đảm bảo tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.