Ngày 3/12/2018, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết A/RES/73/25 tuyên bố ngày 24/1 là Ngày Quốc tế Giáo dục nhằm tôn vinh vai trò của giáo dục đối với hòa bình và phát triển. Tại Việt Nam, giáo dục luôn được coi là ưu tiên hàng đầu trong các mục tiêu phát triển đất nước.
Trong những năm vừa qua, giáo dục nước nhà có sự chuyển biến mạnh mẽ thông qua việc ban hành những chính sách mới, trong đó có Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Nghị quyết đã xác định rõ định 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trong đó có yêu cầu “đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng trong giáo dục và đào tạo”. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam.
Hợp tác quốc tế góp phần nâng cao chuẩn chất lượng đào tạo
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh nhận định, Nghị quyết 71 nêu rõ: Mở rộng, đa dạng hoá và làm sâu sắc hơn các cơ chế hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong hệ thống giáo dục quốc dân phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam.
Việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế, theo tinh thần Nghị quyết 71 có tác động sâu sắc và lâu dài đến chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học cũng như năng lực hội nhập của các cơ sở giáo dục đại học.
Trước hết, hợp tác quốc tế góp phần nâng cao chuẩn chất lượng đào tạo, không chỉ về nội dung chương trình mà còn ở phương pháp giảng dạy, đánh giá người học và quản trị học thuật. Khi tiếp cận các chuẩn mực quốc tế một cách chọn lọc, phù hợp với điều kiện Việt Nam, các trường đại học có thêm cơ sở để đối sánh, điều chỉnh và cải tiến liên tục, tránh tình trạng “đóng khung” trong tư duy nội địa.
Đối với nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế mở rộng cơ hội tham gia các mạng lưới nghiên cứu liên ngành, liên quốc gia, qua đó nâng cao chất lượng công bố, khả năng chuyển giao tri thức và uy tín học thuật. Quan trọng hơn, quá trình này góp phần hình thành năng lực hội nhập thực chất cho giảng viên và sinh viên, từ năng lực ngoại ngữ, tư duy nghiên cứu đến tác phong làm việc trong môi trường học thuật quốc tế.
Tuy nhiên, hội nhập không đồng nghĩa với sao chép. Việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế cần được thực hiện trên nguyên tắc tiếp thu có chọn lọc, phù hợp với sứ mạng, thế mạnh và nhu cầu phát triển của từng cơ sở giáo dục đại học.
Đối với Trường Đại học Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, hợp tác quốc tế và chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế được xác định là một trong những trụ cột của chiến lược phát triển.
Nhà trường chú trọng mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp nước ngoài; đồng thời từng bước triển khai kiểm định chất lượng, cập nhật chương trình đào tạo gắn với chuẩn nghề nghiệp quốc tế và yêu cầu thực tiễn của ngành giao thông vận tải. Mục tiêu hướng tới là đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn vững, kỹ năng hội nhập tốt và khả năng thích ứng cao trong môi trường làm việc toàn cầu.
“Có thể khẳng định, việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế một cách chủ động, chọn lọc và phù hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, hiệu quả nghiên cứu khoa học, đồng thời, tăng cường năng lực hội nhập và sức cạnh tranh của cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, trong đó có Trường Đại học Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, trên bản đồ giáo dục khu vực và quốc tế”, thầy Phương nhấn mạnh.
Cùng với đó, Nghị quyết 71 cũng đặt ra nhiệm vụ cấp học bổng hoặc có chính sách khuyến khích, hỗ trợ học sinh, sinh viên, giảng viên đi học tập, nghiên cứu, thỉnh giảng ở các nước phát triển, các nước có quan hệ truyền thống, có thế mạnh trong lĩnh vực, ngành trọng điểm, tận dụng các chương trình hợp tác song phương.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Phương, thời gian qua, các chính sách hỗ trợ trao đổi học thuật quốc tế đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, xét trên tổng thể, những chính sách này vẫn chưa đủ mạnh để tạo ra tác động lan tỏa rộng khắp. Nhiều chương trình học bổng, trao đổi, thỉnh giảng hiện nay còn mang tính dự án, quy mô hạn chế và phụ thuộc nhiều vào nguồn lực của đối tác quốc tế.
Từ thực tiễn đó, có thể thấy cùng với các chính sách chung của Nhà nước, sự chủ động từ phía các cơ sở giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.
Tại nhà trường, hợp tác quốc tế được xác định là một trụ cột trong chiến lược phát triển. Trên cơ sở đó, nhà trường triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, như khuyến khích giảng viên tham gia các chương trình trao đổi, nghiên cứu ngắn hạn ở nước ngoài; hỗ trợ sinh viên tiếp cận các chương trình liên kết đào tạo, học kỳ doanh nghiệp quốc tế; đồng thời từng bước xây dựng môi trường học thuật song ngữ, tăng cường giảng dạy các học phần bằng tiếng Anh.
Quan trọng hơn, nhà trường hướng tới việc đưa hợp tác quốc tế trở thành hoạt động thường xuyên, gắn chặt với chiến lược phát triển đội ngũ và nâng cao chất lượng đào tạo, thay vì chỉ dừng lại ở những chương trình mang tính phong trào.
Trong khi đó, Tiến sĩ Lê Ngọc Sơn - Viện trưởng Viện Đào tạo Quốc tế và Sau đại học, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, Nghị quyết 71 có ý nghĩa quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng đối với phát triển giáo dục và đào tạo trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Nghị quyết không chỉ đặt ra yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng, mà còn khẳng định hợp tác và hội nhập quốc tế là một trong những động lực quan trọng để nâng cao năng lực của hệ thống giáo dục quốc gia.
Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những cơ sở giáo dục đại học sớm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục. Nhà trường xác định đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và vị thế của trường.
Đặc biệt, từ năm 2021, trường đã ban hành Nghị quyết quốc tế hóa giai đoạn 2021-2030, với mục tiêu: “Đẩy mạnh quốc tế hóa trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học, trao đổi chuyên gia và sinh viên, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo theo chuẩn quốc tế, gia tăng ảnh hưởng xã hội và khẳng định vị thế của Nhà trường trên trường quốc tế”.
Nghị quyết số 71 tiếp tục bổ sung định hướng chính trị và cơ sở chiến lược quan trọng, tạo nền tảng để IUH thúc đẩy hợp tác quốc tế theo hướng bài bản, có chọn lọc và phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững, lâu dài.
Tháo gỡ “điểm nghẽn” để hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học đi vào chiều sâu
Nghị quyết 71 đặt yêu cầu thúc đẩy đàm phán, ký kết các thỏa thuận, hiệp định về hợp tác giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ; tham gia các tổ chức bảo đảm chất lượng, phát triển giáo dục quốc tế.
Theo Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, từ thực tiễn triển khai các chương trình liên kết, hợp tác quốc tế, có thể nhận diện một số “điểm nghẽn” lớn hiện nay. Trước hết, cơ chế và thủ tục hành chính còn rườm rà, thiếu linh hoạt, khiến quá trình đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện các chương trình hợp tác kéo dài, làm giảm tính cạnh tranh và bỏ lỡ cơ hội của các cơ sở giáo dục đại học.
Bên cạnh đó, sự thiếu đồng bộ trong quy định về công nhận văn bằng, chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra cũng tạo ra rào cản đối với các mô hình liên kết quốc tế. Một số chính sách về tài chính, đầu tư cho hợp tác quốc tế chưa đủ sức hấp dẫn, chưa tạo được động lực để các đối tác nước ngoài gắn bó và hợp tác lâu dài.
Để các mô hình hợp tác quốc tế phát triển bền vững và đi vào thực chất, cần có những điều chỉnh theo hướng tăng cường quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục đại học, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát, bảo đảm chất lượng chặt chẽ. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và định hướng, ban hành khung pháp lý thống nhất, minh bạch; còn các trường được chủ động lựa chọn đối tác, hình thức và nội dung hợp tác phù hợp với năng lực nội tại và chiến lược phát triển.
Chỉ khi những điểm nghẽn về thể chế được tháo gỡ, môi trường hợp tác được xây dựng theo hướng minh bạch, linh hoạt và ổn định, hợp tác quốc tế mới có thể trở thành động lực quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng.
Cùng bàn về nội dung này, Tiến sĩ Lê Ngọc Sơn khẳng định, việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác với đối tác nước ngoài, từ cơ sở giáo dục đại học, doanh nghiệp quốc tế đến các tổ chức kiểm định chất lượng có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng không gian hợp tác, phát huy hiệu quả nguồn lực của các bên. Qua đó, góp phần thúc đẩy quá trình chuẩn hóa, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của Nhà trường theo chuẩn khu vực và quốc tế.
Qua thực tế triển khai các chương trình liên kết đào tạo và hợp tác quốc tế tại Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, có thể thấy để các mô hình hợp tác này phát triển bền vững và đi vào chiều sâu, cần lưu ý một số vấn đề then chốt.
Đầu tiên, việc lựa chọn đối tác cần được đặt trên cơ sở phù hợp về năng lực, uy tín và tầm nhìn phát triển dài hạn. Hợp tác quốc tế chỉ thực sự hiệu quả khi các bên có khả năng đồng hành lâu dài, cùng chia sẻ mục tiêu và tạo ra giá trị gia tăng cho cả hai phía.
Thứ hai, các thỏa thuận hợp tác sau khi ký kết cần được triển khai một cách thực chất, tránh dừng lại ở hình thức. Điều này đòi hỏi việc cụ thể hóa nội dung hợp tác bằng các chương trình, kế hoạch hành động rõ ràng; tổ chức triển khai nghiêm túc theo cam kết đã ký kết, đồng thời có cơ chế theo dõi, đánh giá kết quả và hiệu quả thực hiện.
Thứ ba, cần tiếp tục chuẩn hóa chương trình đào tạo, quy trình quản lý và năng lực quản trị theo hướng tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế. Đây là điều kiện nền tảng để cơ sở giáo dục đại học có thể tham gia sâu hơn, chủ động hơn vào mạng lưới hợp tác và học thuật quốc tế.
Cuối cùng, cần xây dựng và hoàn thiện các chính sách theo hướng cởi mở, linh hoạt nhưng có kiểm soát, nhằm tạo thuận lợi cho hợp tác quốc tế, đồng thời bảo đảm tuân thủ các quy định của Việt Nam và thông lệ quốc tế.
Thầy Sơn bày tỏ kỳ vọng: “Nghị quyết 71 sẽ trở thành đòn bẩy quan trọng, góp phần tháo gỡ những rào cản về cơ chế, chính sách, qua đó tạo động lực và sự đột phá cho hợp tác giáo dục và đào tạo trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng”.
Theo Viện trưởng Viện Đào tạo Quốc tế và Sau đại học, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, để hài hòa giữa hội nhập giáo dục quốc tế và việc gìn giữ, lan tỏa bản sắc Việt Nam, cơ sở giáo dục đại học cần quan tâm một số nội dung trọng tâm.
Trước hết, cần quán triệt đầy đủ các chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước; đồng thời tăng cường công tác định hướng tư tưởng, chính trị cho đội ngũ lãnh đạo, giảng viên và người học. Qua đó, nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong việc gìn giữ, trân trọng và chủ động quảng bá các giá trị văn hóa, lịch sử và ngôn ngữ Việt Nam trong tiến trình hội nhập giáo dục quốc tế.
Tiếp đó, cần xác định rõ mục tiêu của từng chương trình hợp tác quốc tế; xây dựng đề án và lộ trình triển khai cụ thể, bảo đảm các chương trình được đặt trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế, đồng thời phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường và định hướng phát triển giáo dục của đất nước.
Các cơ sở giáo dục đại học cần chủ động nâng cao cảnh giác, tăng cường công tác quản lý và kiểm soát nội dung đào tạo cũng như hoạt động hợp tác quốc tế; kịp thời nhận diện, phòng ngừa và xử lý những biểu hiện lợi dụng hợp tác giáo dục để tác động tiêu cực đến tư tưởng, văn hóa.
Ngoài ra, cần lồng ghép các giá trị văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ và bối cảnh Việt Nam vào quá trình thiết kế, triển khai các chương trình đào tạo quốc tế theo hướng phù hợp, hiện đại và linh hoạt. Qua đó, giúp các bên tham gia hiểu sâu hơn về Việt Nam, đồng thời góp phần lan tỏa hình ảnh và giá trị Việt Nam ra khu vực và thế giới.
