Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị khởi công tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam và mở rộng mạng lưới đường sắt đô thị, bài toán nhân lực chất lượng cao đang trở nên cấp thiết. Không chỉ cần số lượng nhân lực, lĩnh vực này còn đòi hỏi đội ngũ được đào tạo bài bản, đáp ứng chuẩn công nghệ quốc tế.
Trước yêu cầu đó, nhiều trường đại học đã chủ động xây dựng chương trình đào tạo ngành/chuyên ngành Đường sắt tốc độ cao, hướng tới chuẩn hóa nguồn nhân lực cho hạ tầng chiến lược quốc gia.
Đào tạo nhân lực Đường sắt tốc độ cao, trường đại học đón đầu xu thế
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Phương - Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh (UTH) cho hay, Đường sắt tốc độ cao là một trong những chương trình đào tạo trọng điểm được nhà trường xây dựng bài bản, khoa học và có tầm nhìn dài hạn, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống giao thông hiện đại của đất nước.
Chương trình Đường sắt tốc độ cao của trường được thiết kế theo hướng tiếp cận công nghệ thế hệ mới, có sự khác biệt căn bản so với mô hình đào tạo đường sắt truyền thống vốn chủ yếu tập trung vào khai thác, vận hành các tuyến hiện hữu và công tác bảo trì cơ bản.
Điểm nhấn của chương trình là được xây dựng trên nền tảng tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia có hệ thống đường sắt tốc độ cao phát triển như châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, đồng thời điều chỉnh phù hợp với điều kiện và định hướng phát triển của Việt Nam.
Nội dung đào tạo được thiết kế theo tư duy tích hợp hệ thống, bao quát toàn bộ chuỗi giá trị từ xây dựng hạ tầng, phương tiện - cơ khí, điện khí hóa, điều khiển - thông tin tín hiệu đến khai thác vận hành, an toàn và bảo trì.
Bên cạnh đào tạo lý thuyết, nhà trường đặc biệt chú trọng thực hành, mô phỏng và trải nghiệm thực tế. UTH đã đầu tư mạnh mẽ cho hệ thống phòng thí nghiệm, phòng mô phỏng, giúp sinh viên tiếp cận sớm với quy trình vận hành và quản lý hệ thống trong môi trường tiệm cận thực tế nhưng bảo đảm an toàn.
Ngoài ra, chương trình đào tạo cũng tăng cường các học phần ngoại ngữ, đặc biệt là ngoại ngữ chuyên ngành, nhằm giúp sinh viên có khả năng tiếp cận tài liệu kỹ thuật quốc tế, làm việc trong môi trường đa quốc gia và từng bước làm chủ công nghệ đường sắt tốc độ cao.
Thầy Phương cho rằng, so với các ngành giao thông - kỹ thuật khác, ngành đường sắt tốc độ cao có lợi thế rất rõ về đầu ra việc làm. Trước hết, đây là lĩnh vực gắn với các dự án hạ tầng quy mô quốc gia, có lộ trình triển khai dài hạn, ổn định, do đó nhu cầu nhân lực mang tính liên tục và bền vững, không mang tính ngắn hạn hay thời vụ.
Bên cạnh đó, đường sắt tốc độ cao là ngành công nghệ cao, tính tích hợp lớn, đòi hỏi nguồn nhân lực được đào tạo chuyên sâu và bài bản. Điều này giúp sinh viên tốt nghiệp có năng lực chuyên môn đặc thù, ít cạnh tranh trực tiếp với các ngành kỹ thuật truyền thống, đồng thời có cơ hội làm việc không chỉ trong nước mà còn tham gia các dự án, doanh nghiệp và chuỗi cung ứng quốc tế.
Ngoài ra, với định hướng phát triển mạnh mẽ của hệ thống đường sắt hiện đại và đường sắt đô thị trong thời gian tới, sinh viên chương trình Đường sắt tốc độ cao có nhiều lựa chọn nghề nghiệp, từ tư vấn - thiết kế, thi công, quản lý dự án đến vận hành - khai thác và quản lý nhà nước, qua đó tạo ra lợi thế cạnh tranh rõ rệt về đầu ra so với nhiều ngành kỹ thuật khác.
Theo thầy Phương, những năm gần đây, Đảng và Nhà nước xác định rõ vai trò chiến lược của đường sắt hiện đại, đặc biệt là dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Trong bối cảnh đó, công tác tuyển sinh của nhà trường nói chung và các ngành liên quan đến đường sắt hiện đại nói riêng ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Số lượng thí sinh quan tâm đến các ngành kỹ thuật giao thông, nhất là lĩnh vực đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị, có xu hướng gia tăng.
Tuy nhiên, công tác tuyển sinh ngành đường sắt vẫn đối mặt với không ít thách thức do sự cạnh tranh từ các ngành nghề khác, cũng như nhận thức của một bộ phận phụ huynh, học sinh về triển vọng nghề nghiệp của ngành còn chưa đầy đủ.
Nhận diện rõ điều này, UTH xác định tuyển sinh chương trình đào tạo Đường sắt tốc độ cao là nhiệm vụ trọng tâm, gắn với đẩy mạnh truyền thông, tư vấn hướng nghiệp và khẳng định đây là lĩnh vực có nhu cầu nhân lực lớn, cơ hội việc làm ổn định, đóng góp trực tiếp cho sự phát triển bền vững của đất nước.
“Về lâu dài, nguồn nhân lực ngành Đường sắt tốc độ cao của Việt Nam sẽ có triển vọng rất lớn. Với sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng đội ngũ kỹ sư, chuyên gia, nhà quản lý đủ năng lực, từng bước làm chủ công nghệ, đáp ứng yêu cầu phát triển và giảm dần sự phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài”, thầy Phương khẳng định.
Cùng bàn về nội dung này, Tiến sĩ Cù Việt Hưng - Trưởng khoa, Khoa Cầu Đường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội cho biết, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội là một trong những cơ sở giáo dục đại học tiên phong trên cả nước triển khai đào tạo chuyên ngành Đường sắt tốc độ cao và Đường sắt đô thị.
Tháng 12/2024, chương trình đào tạo chuyên ngành này, thuộc ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình Giao thông, đã chính thức được ban hành và đưa vào triển khai tại nhà trường.
So với các chương trình đào tạo đường sắt truyền thống, chương trình của nhà trường có nhiều điểm mới và tính cập nhật cao.
Trước hết, cấu trúc chương trình được thiết kế linh hoạt, dựa trên nền tảng khối kiến thức chung và kiến thức cơ sở vững chắc của ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình Giao thông. Cách tiếp cận này tạo điều kiện thuận lợi cho liên thông ngang giữa các chuyên ngành, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển của lĩnh vực giao thông hiện đại.
Bên cạnh đó, chương trình được xây dựng trên cơ sở tham khảo, kế thừa có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt từ các trường đại học uy tín tại Trung Quốc như Đại học Giao thông Tây Nam, Đại học Đồng Tế… Nhiều học phần chuyên sâu được thiết kế theo hướng cập nhật công nghệ, phương pháp thiết kế, xây dựng và khai thác đường sắt hiện đại.
Chương trình cũng chú trọng gắn đào tạo với thực tiễn thông qua các học phần thực tập, tham quan tại công trường và các dự án đường sắt tốc độ cao đang triển khai ở Trung Quốc, trên cơ sở các thỏa thuận hợp tác quốc tế mà nhà trường đã ký kết.
Ở các học kỳ cuối, sinh viên được lựa chọn các khối kiến thức chuyên sâu linh hoạt, phù hợp với định hướng nghề nghiệp như: tuyến và kết cấu nền đường sắt tốc độ cao, cầu - hầm, kinh tế xây dựng, kiến trúc - môi trường và các lĩnh vực liên quan.
Những đổi mới này hướng tới mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực có nền tảng kỹ thuật vững vàng, khả năng thích ứng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị tại Việt Nam trong thời gian tới.
Ngành Đường sắt tốc độ cao có lợi thế cạnh tranh rõ nét về đầu ra nhờ nhu cầu nhân lực lớn, ổn định và mang tính dài hạn. Đây là lĩnh vực hạ tầng đặc thù, đòi hỏi đội ngũ kỹ sư được đào tạo chuyên sâu, trong khi nguồn nhân lực hiện nay còn hạn chế. Thực tế này tạo ra cơ hội việc làm rộng mở, cùng mức thu nhập và chế độ đãi ngộ được đánh giá cao hơn mặt bằng chung của nhiều ngành kỹ thuật giao thông khác.
Bên cạnh đó, các dự án đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị có vòng đời dài, gắn với chiến lược phát triển quốc gia, qua đó mở ra cơ hội nghề nghiệp bền vững, ít biến động. Người lao động có thể phát triển lâu dài trong nhiều vị trí như thiết kế, thi công, quản lý vận hành, tư vấn kỹ thuật, không chỉ trong nước mà còn có khả năng tham gia vào các dự án quốc tế.
Giải quyết bài toán nhân lực từ liên kết “ba nhà”
Quyết định số 2230/QĐ-TTg ngày 9/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045 nêu mục tiêu cụ thể giai đoạn 2025 - 2030: Đào tạo ít nhất 35.000 nhân lực, tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao, đường sắt điện khí hóa, đường sắt đô thị và bổ sung nguồn nhân lực giảng dạy cho các cơ sở đào tạo.
Để đạt được mục tiêu này, Hiệu trưởng Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ là thiếu nhân lực về số lượng, mà còn thiếu đội ngũ được đào tạo đúng chuẩn công nghệ đường sắt tốc độ cao, từ kỹ sư, chuyên gia, giảng viên đến lực lượng vận hành và quản lý hệ thống. Đây là lĩnh vực công nghệ rất mới, có yêu cầu cao về tính tích hợp hệ thống, an toàn và tiêu chuẩn quốc tế, trong khi kinh nghiệm thực tiễn, học liệu chuẩn và điều kiện thực hành trong nước còn hạn chế.
Nhận thức rõ yêu cầu “đào tạo phải đi trước một bước”, UTH đã chủ động triển khai nhiều giải pháp đồng bộ trong thời gian qua.
Trước hết, nhà trường tập trung đầu tư mạnh cho cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, với nhiều dự án quy mô lớn, trong đó nổi bật là hệ thống phòng thí nghiệm, phòng mô phỏng và đặc biệt là phòng mô phỏng điều khiển và khai thác đường sắt tốc độ cao được đưa vào vận hành cuối năm 2025. Đây là điều kiện quan trọng giúp sinh viên và học viên tiếp cận quy trình vận hành, điều khiển và quản lý hệ thống trong môi trường tiệm cận thực tế, bảo đảm an toàn.
Song song với đó, nhà trường xác định đội ngũ giảng viên là yếu tố then chốt. Nhà trường đã chủ động cử giảng viên đi đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu ở nước ngoài, tham gia các chương trình hợp tác quốc tế về đường sắt tốc độ cao, đồng thời mời các chuyên gia, kỹ sư giàu kinh nghiệm từ doanh nghiệp và các đối tác quốc tế tham gia giảng dạy, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn.
Về mô hình đào tạo, UTH không chỉ tập trung vào đào tạo chính quy dài hạn mà còn mở rộng nhiều hình thức đào tạo linh hoạt như văn bằng hai, liên thông, vừa làm vừa học, đào tạo lại và nâng chuẩn cho lực lượng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp xây dựng và giao thông vận tải.
Cách tiếp cận này nhằm tận dụng nền tảng nhân lực sẵn có, qua đó rút ngắn thời gian và tăng nhanh số lượng nhân lực có thể tham gia vào các dự án đường sắt tốc độ cao trong thời gian tới.
Là một trong những đơn vị tiên phong triển khai đào tạo trong lĩnh vực này, UTH xác định rõ trách nhiệm trong việc nghiên cứu nhu cầu nhân lực, đồng thời chủ động tiếp thu kinh nghiệm quốc tế từ các quốc gia có hệ thống đường sắt tốc độ cao phát triển, song song với việc đẩy mạnh hợp tác, chuyển giao công nghệ với các đối tác uy tín.
Nhà trường xác định đào tạo nhân lực đường sắt tốc độ cao phải gắn chặt với thực tiễn sản xuất và vận hành. Trên cơ sở đó, nhà trường chủ trương xây dựng mối liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp, các chủ đầu tư, đơn vị tư vấn, thi công và vận hành hệ thống đường sắt, metro trong và ngoài nước.
Đồng thời, trường mở rộng hợp tác quốc tế với các tập đoàn, viện nghiên cứu và đơn vị vận hành đường sắt hiện đại, nhằm tiếp cận công nghệ, chuẩn mực quốc tế và từng bước hình thành hệ sinh thái đào tạo - nghiên cứu - chuyển giao công nghệ đường sắt tốc độ cao.
Doanh nghiệp không chỉ là đơn vị tiếp nhận sinh viên sau tốt nghiệp mà còn tham gia ngay từ khâu xây dựng, hoàn thiện chương trình đào tạo, phối hợp tổ chức học kỳ doanh nghiệp, thực tập chuyên ngành và trải nghiệm tại công trình. Qua đó, sinh viên được tiếp cận sớm với môi trường làm việc thực tế, công nghệ hiện đại, quy trình quản lý dự án quy mô lớn, đồng thời hình thành tác phong công nghiệp và ý thức bảo đảm an toàn ngay trong quá trình học tập.
Thầy Phương chia sẻ: “Tôi cho rằng, để thu hẹp khoảng cách rất lớn giữa cung và cầu nhân lực hiện nay, cần có sự vào cuộc đồng bộ của Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Trong đó, các trường đại học phải chủ động đi trước, chuẩn bị nguồn lực đào tạo, còn doanh nghiệp cần đồng hành thực chất, Nhà nước giữ vai trò định hướng và tạo cơ chế.
Khi ba trụ cột này vận hành hiệu quả, bài toán nhân lực cho đường sắt tốc độ cao sẽ từng bước được giải quyết, biến thách thức thành động lực cho sự phát triển của hạ tầng chiến lược quốc gia”.
Trước nhu cầu nhân lực lớn ngành Đường sắt tốc độ cao, Trưởng khoa, Khoa Cầu Đường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội cho hay, thách thức lớn nhất hiện nay trong đào tạo nhân lực đường sắt tốc độ cao là khoảng cách đáng kể giữa yêu cầu thực tiễn của các dự án quy mô quốc gia với năng lực đào tạo chuyên sâu hiện có, đặc biệt trong các lĩnh vực thiết kế, thi công, quản lý và khai thác vận hành theo chuẩn quốc tế.
Để thu hẹp khoảng cách này, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp: xây dựng chương trình đào tạo bài bản, cập nhật công nghệ và tiêu chuẩn quốc tế, đẩy mạnh mô hình liên kết “ba nhà” gồm Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp.
Cùng với đó, tăng cường đào tạo lại, đào tạo chuyển đổi cho đội ngũ kỹ sư đang làm việc, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế nhằm tiếp cận nhanh tri thức, công nghệ và kinh nghiệm của các quốc gia đi trước.
Đây là hướng đi then chốt để sớm hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đáp ứng tiến độ và yêu cầu của các dự án đường sắt tốc độ cao trong thời gian tới.
Thầy Hưng nhấn mạnh, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội luôn xác định gắn đào tạo với thực tiễn sản xuất và dự án là yêu cầu cốt lõi trong quá trình đào tạo kỹ sư. Trên cơ sở đó, nhà trường đã thiết lập quan hệ hợp tác chặt chẽ với nhiều doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực xây dựng và hạ tầng giao thông như Vinaconex, Coninco, TEDI, Fecon…, tạo điều kiện để người học được thực tập, trải nghiệm thực tế ngay trong thời gian học tập.
Thông qua các thỏa thuận hợp tác, sinh viên và học viên được tham gia học kỳ thực tập tại công trường, dự seminar chuyên môn, trao đổi kỹ thuật với chuyên gia doanh nghiệp, qua đó tiếp cận sớm môi trường làm việc và yêu cầu thực tiễn của các dự án hạ tầng quy mô lớn.
Tiêu biểu là mô hình “doanh nghiệp đồng hành cùng nhà trường” được triển khai với Tổng công ty Vinaconex (từ tháng 12/2024) và Công ty Coninco (từ tháng 11/2025). Nhà trường đã phối hợp khai giảng các lớp kỹ sư chuyên ngành Đường sắt tốc độ cao và Đường sắt đô thị theo định hướng đặt hàng doanh nghiệp.
Chương trình được thiết kế sát với nhu cầu thực tế, học viên chủ yếu là đội ngũ kỹ thuật nòng cốt và chỉ huy công trường, qua đó gắn đào tạo với dự án ngay trong quá trình học.
Bên cạnh hoạt động trong nước, trường cũng chú trọng mở rộng trải nghiệm quốc tế. Điển hình, trong khuôn khổ lớp liên kết với Vinaconex, tháng 10/2025, học viên đã tham gia chương trình tham quan, thực tập 10 ngày tại Trung Quốc, trực tiếp khảo sát phòng thí nghiệm đường sắt của Đại học Giao thông Tây Nam và nhiều công trường đường sắt tốc độ cao đang thi công.
“Trong giai đoạn 5-10 năm tới, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội dự báo nhu cầu nhân lực ngành Đường sắt tốc độ cao sẽ gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt khi Việt Nam triển khai các dự án quy mô lớn như tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và mở rộng hệ thống đường sắt đô thị tại các đô thị lớn, nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhu cầu nhân lực không chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng hạ tầng mà còn kéo dài trong quá trình vận hành, khai thác và bảo trì, với yêu cầu ngày càng cao về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn.
Trong bối cảnh nguồn nhân lực được đào tạo bài bản còn hạn chế, các kỹ sư chuyên ngành Đường sắt tốc độ cao sẽ có cơ hội việc làm rộng mở, ổn định và bền vững trong thập kỷ tới”, thầy Hưng cho biết.