Thoát khỏi tư duy “đếm bài báo” để khoa học thực sự phục vụ phát triển đất nước

22/03/2026 06:25
Doãn Nhàn

GDVN -Phát biểu gần đây của Quyền Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn về việc “đếm” số lượng bài báo KH đang nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận.

Theo Quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn, không thể chỉ dừng lại ở việc đếm số lượng bài báo hay so sánh tăng trưởng lượng công bố hàng năm. Khoa học công nghệ phải đóng góp trực tiếp vào nền kinh tế thông qua những sản phẩm nghiên cứu có thể chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn; những đề tài, nhiệm vụ khoa học giải quyết vấn đề cấp bách của đất nước.

Tín hiệu tích cực cho hệ sinh thái nghiên cứu thực chất

z7501242770515-7926bd63af34457a8c8b5565773a1eb7.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng - nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng đây là một thông điệp rõ ràng và mạnh mẽ về cách tiếp cận mới đối với hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu lành mạnh và thực chất hơn tại Việt Nam.

“Đây là điều rất đáng để các nhà khoa học tại các trường đại học và viện nghiên cứu nghiêm túc suy nghĩ và thực thi”, thầy Dũng nói.

Theo thầy Dũng, khoa học và công nghệ không thể chỉ được đánh giá thông qua số lượng bài báo hay tốc độ tăng trưởng công bố hằng năm. Thay vào đó, các hoạt động nghiên cứu cần đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế và xã hội thông qua những kết quả cụ thể.

“Điều quan trọng là sản phẩm nghiên cứu phải có khả năng chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn; các đề tài, nhiệm vụ khoa học phải góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách của đất nước. Đồng thời, khoa học còn phải đóng vai trò trong việc đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao - lực lượng then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, và những đóng góp này cần được chứng minh bằng kết quả cụ thể chứ không chỉ là những con số trên giấy”, thầy Dũng nhận định.

Theo vị chuyên gia, cách tiếp cận này có thể xem là một bước chuyển “đột phá” và thực tế của lãnh đạo ngành giáo dục Việt Nam, bởi nó chạm tới một vấn đề đang được giới khoa học toàn cầu tranh luận nhiều năm qua, đó là áp lực “publish or perish” (xuất bản hoặc bị đào thải).

“Áp lực này đã tạo ra quá nhiều bài báo chất lượng thấp, thậm chí xuất hiện tình trạng "rác khoa học”, thầy Dũng nói.

Theo Phó Giáo sư Đỗ Văn Dũng nhìn nhận, quan điểm của Quyền Bộ trưởng không phủ nhận giá trị của công bố quốc tế mà nêu “không thể chỉ dừng lại ở đó”. Thực tế, nhiều trường đại học và quỹ nghiên cứu trên thế giới đang dần giảm việc sử dụng các chỉ số như Impact Factor hay số lượng bài báo làm thước đo duy nhất, thay vào đó chuyển sang đánh giá tác động thực tế của nghiên cứu, như số bằng sáng chế, các doanh nghiệp khởi nguồn từ nghiên cứu (startup), khả năng giải quyết vấn đề xã hội hay sản phẩm được thương mại hóa.

Ở Việt Nam, theo thầy Dũng, cách nhìn này càng có ý nghĩa khi những năm gần đây số lượng bài báo quốc tế tăng nhanh, nhưng nhiều công trình nghiên cứu vẫn chưa được ứng dụng trong thực tiễn.

“Nhiều công trình sau khi công bố vẫn nằm trong tủ, không được sử dụng, không giải quyết được các vấn đề mà doanh nghiệp và đất nước đặt ra”, thầy Dũng nói.

Nếu chỉ chạy theo số lượng, theo thầy Dũng, hệ thống nghiên cứu dễ rơi vào tình trạng “lạm phát bài báo”, kéo theo những hệ quả như mua bán bài báo, sự xuất hiện của các tạp chí săn mồi, hoặc xu hướng lựa chọn các nghiên cứu “an toàn” để dễ công bố thay vì những nghiên cứu khó nhưng có giá trị ứng dụng cao.

Từ đó, Phó Giáo sư Đỗ Văn Dũng cho rằng phát biểu của Quyền Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn là một lời nhắc nhở “khéo léo nhưng quyết liệt” đối với hệ thống giáo dục đại học.

“Đại học Việt Nam phải trở thành động lực đổi mới sáng tạo thực sự, chứ không phải chỉ là nơi sản xuất bài báo. Nếu làm được điều này, khoa học Việt Nam sẽ không chỉ mạnh trên giấy mà còn góp phần trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế bền vững”, thầy Dũng nhận định, đồng thời cho rằng đây cũng là tinh thần phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Đình Đức - Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: VNU
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Đình Đức - Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: VNU

Đồng quan điểm, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Đình Đức - Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhà khoa học Việt Nam tiêu biểu, 7 năm liên tiếp (2019-2025) lọt top 10.000 nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới do Elsevier xếp hạng cho rằng, công bố quốc tế vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc khẳng định uy tín học thuật và trình độ chuyên môn của nhà khoa học cũng như các cơ sở giáo dục đại học.

Tuy nhiên, theo Giáo sư Nguyễn Đình Đức, việc có bài báo quốc tế mới chỉ là “điều kiện cần”, chưa phải là đích đến cuối cùng của khoa học. Giáo sư Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh, khoa học không thể chỉ dừng lại ở các công bố, mà cần hướng tới gắn với thực tiễn.

“Mỗi nhà khoa học cần có tâm niệm, hoài bão đem tri thức của mình đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Đó mới là mục đích cuối cùng của nghiên cứu khoa học”, Giáo sư Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và ngăn chặn nguy cơ tụt hậu.

“Kỳ vọng lớn nhất là việc triển khai Nghị quyết 57 sẽ thực sự hiệu quả, đúng tinh thần đã đề ra”, thầy Đức bày tỏ. Từ đó, Giáo sư Nguyễn Đình Đức cho rằng cần có sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy trong phát triển khoa học và công nghệ.

“Không thể xem khoa học công nghệ là hoạt động “ăn đong”, mà phải xác định đây là động lực và giải pháp để đưa đất nước phát triển hùng cường. Nếu không có khoa học công nghệ, chúng ta khó có thể vươn lên sánh vai với các cường quốc”, thầy Đức khẳng định.

Cùng bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Dũng - Trưởng khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh nhận định, nếu chỉ sử dụng số lượng bài báo như thước đo chính để đánh giá khoa học và công nghệ thì chưa phản ánh đầy đủ giá trị thực của hoạt động nghiên cứu.

“Hạn chế lớn nhất của cách tiếp cận này là dễ dẫn đến việc đồng nhất “số lượng công bố” với “chất lượng và giá trị của nghiên cứu”. Trong khi đó, mục tiêu cuối cùng của khoa học và công nghệ không chỉ dừng lại ở việc công bố bài báo, mà quan trọng hơn là tạo ra tri thức mới có khả năng ứng dụng, giải quyết các vấn đề thực tiễn và đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội”, Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng nhận định.

Theo vị chuyên gia, nếu quá nhấn mạnh vào số lượng bài báo, hệ thống nghiên cứu có thể rơi vào tình trạng “chạy theo chỉ tiêu công bố”. Điều này có thể dẫn đến nhiều hệ quả như xu hướng chia nhỏ kết quả nghiên cứu thành nhiều bài báo để tăng số lượng công bố; tập trung vào những nghiên cứu dễ công bố hơn là các nghiên cứu có giá trị ứng dụng nhưng cần thời gian dài; đồng thời chưa khuyến khích mạnh mẽ việc chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu hay tạo ra sản phẩm phục vụ cộng đồng.

“Bài báo khoa học là điều kiện cần để khẳng định tri thức mới, nhưng giá trị cuối cùng của khoa học phải được đo bằng những đóng góp thực sự cho xã hội và sự phát triển của đất nước”, thầy Dũng nhấn mạnh.

Từ đó, Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, việc đánh giá hoạt động nghiên cứu của các trường đại học trong giai đoạn hiện nay cần được tiếp cận theo hệ thống tiêu chí đa chiều, toàn diện hơn. Theo đó, ngoài chất lượng công bố khoa học, cần kết hợp thêm các chỉ số như số lượng bằng sáng chế, khả năng chuyển giao công nghệ, các sản phẩm khoa học phục vụ cộng đồng và tác động thực sự của nghiên cứu đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Từ “đếm công bố” đến đo giá trị thực tiễn

thay-dung.jpg
Hình Ảnh ghi lại thầy PGS.TS. Nguyễn Tấn Dũng hướng dẫn nhóm nghiên cứu vận hành hệ thống sấy thăng hoa DS-11 do thầy chế tạo năm 2020

Bàn sâu hơn về yêu cầu khoa học và công nghệ phải đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế, Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng cho rằng việc đánh giá cần dựa trên những chỉ số phản ánh khả năng chuyển hóa tri thức khoa học thành giá trị kinh tế - xã hội.

“Nói cách khác, không chỉ dừng lại ở việc tạo ra tri thức mới, mà quan trọng hơn là tri thức đó có được ứng dụng vào sản xuất và đời sống hay không”, thầy Dũng chia sẻ.

Theo thầy Dũng, có một số chỉ số có thể phản ánh khá rõ mức độ đóng góp của khoa học và công nghệ đối với nền kinh tế.

Thứ nhất là số lượng và giá trị các công nghệ được chuyển giao cho doanh nghiệp, bởi đây là minh chứng trực tiếp cho việc kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng vào sản xuất.

Thứ hai là số lượng bằng sáng chế, giải pháp hữu ích và mức độ thương mại hóa các sáng chế. Khi một kết quả nghiên cứu được bảo hộ sở hữu trí tuệ và được doanh nghiệp khai thác, điều đó cho thấy giá trị thực tiễn của nghiên cứu.

Thứ ba là doanh thu từ hoạt động khoa học công nghệ, bao gồm nguồn thu từ chuyển giao công nghệ, hợp đồng nghiên cứu với doanh nghiệp và các sản phẩm khoa học được thương mại hóa.

Thứ tư là số lượng doanh nghiệp khởi nguồn từ các trường đại học và viện nghiên cứu (spin-off). Đây là một chỉ báo quan trọng thể hiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khả năng đưa tri thức khoa học vào thị trường.

Bên cạnh đó, Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng cho rằng còn một chỉ số rất quan trọng nhưng đôi khi khó đo lường đầy đủ, đó là tác động của các giải pháp khoa học đối với năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và sự phát triển bền vững của các ngành kinh tế.

“Tóm lại, nếu muốn khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế, thì hệ thống đánh giá cũng cần chuyển từ đo lường tri thức được tạo ra sang đo lường giá trị mà tri thức đó mang lại cho nền kinh tế và xã hội”, thầy Dũng nhấn mạnh.

anh-sv-bkhn.jpg
Sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh minh họa: HUST

Bàn về việc cần thay đổi hệ thống đánh giá khoa học như thế nào để khuyến khích các nghiên cứu có khả năng ứng dụng và chuyển giao vào thực tiễn, Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng cho rằng cần có sự điều chỉnh theo hướng toàn diện và cân bằng hơn giữa giá trị học thuật và giá trị ứng dụng của nghiên cứu.

Trước hết, trong đánh giá kết quả nghiên cứu cần giảm bớt sự phụ thuộc vào các chỉ số công bố khoa học đơn thuần, đồng thời bổ sung các tiêu chí phản ánh khả năng ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Ví dụ như số lượng bằng sáng chế, giải pháp hữu ích, công nghệ được chuyển giao cho doanh nghiệp, hoặc các sản phẩm khoa học được đưa vào sản xuất và đời sống.

Bên cạnh đó, theo thầy Dũng, cần khuyến khích mạnh mẽ sự hợp tác giữa cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu trong quá trình đặt hàng và triển khai nghiên cứu, khả năng ứng dụng của kết quả khoa học sẽ cao hơn, đồng thời giúp các đề tài nghiên cứu gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế.

Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế ghi nhận và đánh giá xứng đáng đối với các nhà khoa học có đóng góp trong chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm hoặc giải quyết các vấn đề thực tiễn của xã hội. Những đóng góp này cần được xem là tiêu chí quan trọng trong đánh giá, bổ nhiệm và xét các danh hiệu khoa học.

Cuối cùng, theo Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng, cần hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong các trường đại học, bao gồm các trung tâm nghiên cứu ứng dụng, vườn ươm công nghệ và doanh nghiệp khởi nguồn từ nghiên cứu. Đây sẽ là môi trường thuận lợi để các kết quả nghiên cứu khoa học được tiếp tục phát triển và chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế.

“Hệ thống đánh giá khoa học cần chuyển dần từ cách tiếp cận chủ yếu đo lường số lượng công bố sang cách tiếp cận đánh giá tác động thực tiễn của nghiên cứu, qua đó tạo động lực để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội”, thầy Dũng nhấn mạnh.

Trong khi đó, Phó Giáo sư Đỗ Văn Dũng cho rằng trước hết cần chuyển trọng tâm đánh giá từ số lượng công bố sang tác động thực tiễn của nghiên cứu.

Theo thầy Dũng, trong nhiều cơ sở đào tạo hiện nay, số lượng bài báo vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong đánh giá khoa học, có nơi tới 70-80%. Vì vậy, cần điều chỉnh theo hướng giảm sự phụ thuộc vào tiêu chí này, đồng thời bổ sung các chỉ số phản ánh giá trị ứng dụng của nghiên cứu.

“Các tiêu chí mới nên chiếm khoảng 40-50% tổng điểm đánh giá, như số bằng sáng chế, giải pháp hữu ích được cấp; số hợp đồng chuyển giao công nghệ; số sản phẩm được thương mại hóa; giá trị kinh tế tạo ra từ hoạt động nghiên cứu; hay mức độ giải quyết các vấn đề thực tiễn được doanh nghiệp và địa phương xác nhận”, thầy Dũng đề xuất.

Bên cạnh đó, theo thầy Dũng, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính và cơ chế khuyến khích để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu ứng dụng.

Cụ thể, cần cho phép các viện nghiên cứu, trường đại học và nhà khoa học được giữ quyền sở hữu trí tuệ, có thể thành lập doanh nghiệp và chia sẻ lợi nhuận linh hoạt từ kết quả nghiên cứu, qua đó giảm các rào cản liên quan đến định giá tài sản nhà nước.

Ngoài ra, Nhà nước có thể ưu tiên mua các sản phẩm khoa học - công nghệ do doanh nghiệp trong nước tạo ra; đồng thời có cơ chế miễn trách nhiệm đối với những thất bại mang tính khách quan trong quá trình thử nghiệm, thí điểm công nghệ.

Thầy Dũng cũng cho rằng cần tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), hướng tới mức khoảng 2% GDP, trong đó ưu tiên nguồn lực cho các doanh nghiệp khởi nguồn từ nghiên cứu và hỗ trợ giai đoạn chuyển tiếp từ kết quả nghiên cứu sang sản phẩm thương mại.

Một yếu tố quan trọng khác là xây dựng hệ sinh thái hợp tác thực chất giữa viện nghiên cứu - trường đại học - doanh nghiệp.

Theo thầy Dũng, các đề tài nghiên cứu nên có sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ khâu thiết kế, nhằm bảo đảm kết quả nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn. Đồng thời, các trường đại học cần xây dựng văn phòng chuyển giao công nghệ chuyên nghiệp, bởi hiện nay hoạt động này vẫn còn khá yếu.

“Việc đánh giá, xếp hạng các trường đại học cũng nên dựa nhiều hơn vào hiệu quả thực tế như số sản phẩm được chuyển giao, số doanh nghiệp khởi nguồn từ nghiên cứu, hay mức độ đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, thay vì chỉ dựa vào số lượng bài báo khoa học”, thầy Dũng nói.

Cuối cùng, theo thầy Dũng, cần tiếp tục cải cách thể chế pháp lý để tháo gỡ các điểm nghẽn cho hoạt động khoa học - công nghệ.

Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống giám sát, đánh giá khoa học công nghệ ở cấp quốc gia dựa trên dữ liệu thời gian thực, đồng thời tăng cường tự chủ tài chính cho các trường đại học, cho phép chia sẻ phòng thí nghiệm và thiết bị nghiên cứu để tránh lãng phí nguồn lực.

Doãn Nhàn