Quy định chi tiết Tiến sĩ danh dự, Giáo sư danh dự giúp bảo vệ giá trị học thuật chuẩn mực

23/03/2026 06:24
ĐÀO HIỀN

GDVN - Nghị định 66/2026/NĐ-CP làm rõ điều kiện xét tặng Tiến sĩ danh dự, Giáo sư danh dự, bảo vệ uy tín học thuật và ngăn chặn lạm dụng danh xưng.

Một trong những điểm đáng chú ý tại Nghị định số 66/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục chính là quy định rõ đối tượng, điều kiện xét tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự, Giáo sư danh dự. Đồng thời cũng nhấn mạnh các danh hiệu này không được sử dụng thay cho học vị, học hàm trong các giao dịch hành chính, học thuật và pháp lý.

Danh hiệu danh dự khác học hàm, học vị

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Tất Dong - nguyên Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam cho rằng, các chức danh khoa học như giáo sư, phó giáo sư được xét phong dựa trên hệ thống tiêu chí chặt chẽ. Để đạt được, cá nhân phải có quá trình cống hiến, chứng minh rõ năng lực và trình độ chuyên môn.

Tương tự, khi đạt học vị tiến sĩ hoặc được phong học hàm giáo sư, phó giáo sư, người đó phải có trách nhiệm với Nhà nước, cơ sở đào tạo và người học theo quy định cụ thể.

Trong khi đó, các danh hiệu như Tiến sĩ danh dự hay Giáo sư danh dự chỉ mang ý nghĩa thể hiện sự trân trọng, ghi nhận của một cơ sở giáo dục đối với cá nhân. Đây không phải là học vị hay chức danh khoa học chính thức, nên không thể sử dụng thay thế cho giáo sư, phó giáo sư theo nghĩa thông thường.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Tất Dong, bản chất hai tên gọi này hoàn toàn khác nhau. Danh hiệu danh dự chỉ là sự tôn vinh, có thể trao cho cả những người không trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực học thuật nhưng có uy tín, đóng góp đối với tổ chức trao tặng.

Do vậy, Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Tất Dong cho rằng việc Nghị định 66 quy định không sử dụng các danh hiệu danh dự trong giao dịch hành chính, học thuật là cần thiết, nhằm phân biệt rõ giữa danh hiệu tôn vinh và chức danh khoa học chính thức. Đồng thời ngăn chặn tình trạng lạm dụng, sử dụng sai mục đích.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho rằng, danh hiệu danh dự về bản chất chỉ là sự ghi nhận, tôn vinh của một tổ chức hoặc cơ sở giáo dục đối với những đóng góp của một cá nhân. Đây là sự trân trọng mang tính biểu tượng, không đồng nghĩa với việc xác lập giá trị học thuật hay năng lực chuyên môn như các học vị, học hàm chính thức.

Ở góc độ học thuật, để đạt được học vị tiến sĩ, mỗi cá nhân phải trải qua một quá trình phấn đấu nghiêm túc và bền bỉ, trong đó yêu cầu cốt lõi là năng lực nghiên cứu khoa học, khả năng công bố tri thức và những đóng góp cụ thể cho lĩnh vực chuyên môn. Chính vì vậy, giữa danh hiệu danh dự và học vị tiến sĩ tồn tại sự khác biệt căn bản về bản chất và giá trị.

Từ thực tế đó, quy định tại Nghị định 66 về việc không sử dụng danh hiệu danh dự trong các giao dịch hành chính, học thuật được xem là cần thiết, góp phần ngăn ngừa sự nhập nhằng và hạn chế tình trạng lạm dụng danh xưng.

Bên cạnh đó, thầy Nhân cũng cho rằng việc mở rộng đối tượng được xét tặng danh hiệu danh dự là bước đi phù hợp với thông lệ quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập, các cơ sở giáo dục hoàn toàn có thể tôn vinh bất kỳ cá nhân nào, không phân biệt quốc tịch hay nơi cư trú, miễn là họ có những đóng góp thiết thực cho sự phát triển của nhà trường hoặc cộng đồng học thuật.

Đáng chú ý, việc trao quyền chủ động cho các trường đại học trong xét tặng danh hiệu danh dự không chỉ thể hiện tinh thần tự chủ đại học, mà còn bảo đảm tính linh hoạt và sát thực tiễn. Bởi lẽ, mỗi cơ sở đào tạo đều có định hướng phát triển và thế mạnh riêng, nên họ có đủ điều kiện để đánh giá một cách xác đáng mức độ đóng góp của từng cá nhân đối với lĩnh vực mà mình theo đuổi.

“Suy cho cùng, danh hiệu danh dự chỉ mang ý nghĩa tôn vinh và ghi nhận, không phải là thước đo năng lực học thuật. Việc phân định rạch ròi giữa danh hiệu mang tính biểu trưng và các học vị, học hàm chính thức không chỉ giúp bảo đảm sự minh bạch trong môi trường giáo dục, mà còn góp phần giữ gìn giá trị và uy tín của các chuẩn mực học thuật”, thầy Nhân nhấn mạnh.

Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.
Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.

Nghị định 66 ngăn tình trạng cá nhân dùng danh hiệu danh dự như học vị chính thức

Để được phong tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự, các cá nhân phải đáp ứng những điều kiện cụ thể theo từng nhóm đối tượng.

Thứ nhất, đối với nhà giáo, nhà khoa học, phải là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người nước ngoài có nhiều đóng góp cho giáo dục và khoa học Việt Nam.

Việc xét tặng căn cứ vào mức độ đóng góp đối với lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu thế mạnh hoặc định hướng phát triển của cơ sở giáo dục đại học, cùng với các tiêu chí do trường quy định.

Thứ hai, đối với nhà hoạt động chính trị, xã hội, ngoài yêu cầu về đối tượng tương tự, cá nhân còn cần có uy tín quốc tế, có nhiều đóng góp cho quan hệ hữu nghị và sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam. Việc phong tặng cũng dựa trên mức độ đóng góp và tiêu chí cụ thể của cơ sở giáo dục đại học.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng, các quy định trong Nghị định 66/2026/NĐ-CP nhìn chung đã bảo đảm định hướng đúng đắn, khi vừa tôn vinh những cá nhân có đóng góp cho giáo dục, khoa học Việt Nam, vừa giữ vững chuẩn mực học thuật thông qua việc phân định rõ giữa danh hiệu và học vị.

Tuy nhiên, để tăng tính chặt chẽ và minh bạch, thầy Quỳnh cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng lượng hóa các tiêu chí, đồng thời tăng cường cơ chế giải trình và kiểm soát quy trình xét duyệt. Điều này sẽ góp phần bảo đảm giá trị thực chất cũng như uy tín lâu dài của danh hiệu.

Bên cạnh đó, việc trao quyền cho các cơ sở giáo dục đại học trong xây dựng tiêu chí và quyết định phong tặng được đánh giá là phù hợp với xu hướng tự chủ đại học và hội nhập quốc tế, giúp nâng cao tính linh hoạt và trách nhiệm của các trường. Dù vậy, vẫn cần thiết lập cơ chế kiểm soát thống nhất ở tầm quốc gia, đi kèm yêu cầu minh bạch, giải trình và giám sát độc lập, nhằm tránh nguy cơ “lạm phát” danh hiệu và bảo đảm sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục đại học.

Quy định hiện nay cũng đã mở rộng đối tượng được xem xét phong tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự, bao gồm cả các nhà hoạt động chính trị, xã hội có nhiều đóng góp cho giáo dục, khoa học và sự phát triển của Việt Nam.

Theo thầy Quỳnh, việc mở rộng này là phù hợp với thông lệ quốc tế, khi nhiều trường đại học trên thế giới cũng trao danh hiệu danh dự cho những cá nhân có tầm ảnh hưởng rộng lớn đối với xã hội và tri thức nhân loại, không chỉ giới hạn trong lĩnh vực học thuật.

Tuy nhiên, để bảo đảm đúng mục đích tôn vinh và giữ vững giá trị học thuật của danh hiệu, cần xác định rõ ràng tiêu chí về “đóng góp”, tránh tình trạng áp dụng một cách hình thức hoặc bị chi phối bởi yếu tố ngoài học thuật. Việc này nhằm ngăn ngừa xu hướng chính trị hóa danh hiệu, đồng thời bảo đảm sự hài hòa giữa ý nghĩa xã hội và chuẩn mực học thuật, qua đó giữ gìn uy tín và giá trị thực chất của danh hiệu Tiến sĩ danh dự, Giáo sư danh dự.

image-22.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng. Ảnh: NVCC.

Trước thực tế từng xuất hiện một số trường hợp cá nhân sử dụng danh hiệu Tiến sĩ danh dự hoặc Giáo sư danh dự như một học vị, học hàm chính thức, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh cho rằng quy định tại Nghị định 66 không cho phép sử dụng các danh hiệu này thay thế cho học vị, học hàm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Theo thầy, quy định này góp phần xác lập ranh giới rõ ràng giữa giá trị tôn vinh mang tính biểu trưng và giá trị học thuật mang tính chuẩn mực. Qua đó, không chỉ bảo vệ tính nghiêm túc của hệ thống học thuật, mà còn bảo đảm sự công bằng đối với những cá nhân đạt được học vị, học hàm thông qua quá trình đào tạo, nghiên cứu và cống hiến khoa học thực chất. Đồng thời, quy định cũng giúp tăng cường tính minh bạch trong các hoạt động hành chính, học thuật và xã hội, hạn chế sự nhầm lẫn hoặc hiểu sai về giá trị của các danh xưng.

“Trong bối cảnh đã từng xảy ra tình trạng lạm dụng danh hiệu để tạo uy tín cá nhân hoặc phục vụ các mục đích không phù hợp, việc ban hành quy định này được đánh giá là cần thiết và có tác động tích cực. Tuy nhiên, để quy định thực sự đi vào cuộc sống, cần có các cơ chế đi kèm như tăng cường giám sát việc sử dụng danh hiệu, quy định rõ chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về việc sử dụng đúng đắn các danh hiệu mang tính tôn vinh”, thầy Quỳnh cho hay.

Để việc phong tặng các danh hiệu danh dự thực sự phát huy ý nghĩa tôn vinh và tránh tình trạng “loạn danh xưng”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh cho rằng cần có những giải pháp hoàn thiện mang tính đồng bộ và thực chất hơn.

Trước hết, các tiêu chí xét tặng cần được xây dựng theo hướng cụ thể, có thể lượng hóa và đi kèm minh chứng rõ ràng, thay vì chỉ dừng ở những tiêu chí mang tính định tính. Việc này giúp bảo đảm quá trình đánh giá dựa trên các căn cứ khách quan, hạn chế yếu tố cảm tính hoặc nể nang, qua đó nâng cao độ tin cậy của danh hiệu.

Bên cạnh đó, quy trình xét duyệt cần được thiết kế minh bạch, chặt chẽ, với sự tham gia của các hội đồng chuyên môn độc lập. Thành phần hội đồng nên bao gồm các nhà khoa học, chuyên gia có uy tín, bảo đảm tính khách quan trong thẩm định và ra quyết định, đồng thời tránh xung đột lợi ích trong quá trình xét tặng.

Ngoài khâu xét duyệt, thầy Quỳnh cũng nhấn mạnh vai trò của cơ chế giám sát và hậu kiểm. Cụ thể, cần có các quy định theo dõi việc sử dụng danh hiệu sau khi được phong tặng, cũng như thiết lập cơ chế thu hồi danh hiệu trong trường hợp phát hiện sai phạm hoặc không còn đáp ứng các tiêu chuẩn đã đặt ra. Đây là yếu tố quan trọng nhằm duy trì kỷ cương và bảo vệ uy tín của hệ thống danh hiệu.

“Chỉ khi kết hợp chặt chẽ giữa quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học và trách nhiệm giải trình trước xã hội, việc phong tặng danh hiệu danh dự mới đạt được sự cân bằng cần thiết. Khi đó, danh hiệu không chỉ dừng lại ở ý nghĩa tôn vinh, mà còn thực sự trở thành biểu tượng của uy tín, giá trị học thuật và sự ghi nhận xứng đáng trong xã hội”, thầy Quỳnh cho hay.

Còn theo quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân, trong thực tế trước đây đã từng xuất hiện một số trường hợp lạm dụng danh hiệu danh dự, trong đó cá nhân nhận danh hiệu chỉ ghi “giáo sư” hay “tiến sĩ” trong các giao dịch hành chính mà không làm rõ đó là giáo sư danh dự hay tiến sĩ danh dự. Hành vi này dễ gây hiểu lầm về trình độ học thuật thực tế của người đó, tạo ra sự nhầm lẫn giữa giá trị tôn vinh và giá trị học thuật.

Ngoài ra, thầy Nhân cũng lưu ý rằng hiện nay số lượng cá nhân được phong tặng danh hiệu giáo sư danh dự, tiến sĩ danh dự vẫn chưa nhiều. Tuy nhiên, để việc phong tặng thực sự có ý nghĩa tôn vinh và hạn chế tình trạng “loạn danh xưng”, cần xây dựng các tiêu chí cụ thể hơn, làm rõ mức độ đóng góp mà một cá nhân phải có để được xét tặng.

“Việc lượng hóa mức độ đóng góp sẽ giúp quá trình xét duyệt minh bạch, công bằng hơn, đồng thời nâng cao giá trị thực chất và uy tín của danh hiệu trong cộng đồng giáo dục và xã hội”, thầy Nhân nêu quan điểm.

ĐÀO HIỀN