Trong những năm gần đây, giáo dục đại học đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản về phương thức quản trị, theo hướng minh bạch, hiệu quả và có trách nhiệm giải trình cao hơn. Đối với Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội, quản trị không chỉ là hoạt động điều hành, mà là yếu tố quyết định chất lượng đào tạo, năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững.

Xuất phát từ nhận thức đó, Trường Đại học Công nghệ xác định xây dựng hệ thống quản trị đại học số không đơn thuần là một dự án công nghệ, mà là lựa chọn chiến lược dài hạn, nhằm tái cấu trúc toàn bộ hoạt động của nhà trường theo hướng hiện đại, dựa trên dữ liệu và nền tảng số.

Hệ thống quản trị đại học số “xương sống” vận hành trường

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình – Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, quản trị là điểm xuất phát của chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Nếu không thay đổi cách quản trị, thì rất khó tạo ra thay đổi thực chất trong đào tạo và nghiên cứu.

chu-duc-trinh.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình – Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: NVCC

Từ năm 2023, nhà trường triển khai đồng bộ chương trình chuyển đổi số với trọng tâm là quản trị đại học số, bắt đầu từ việc chuẩn hóa quy trình, thống nhất dữ liệu và xây dựng một nền tảng số dùng chung cho toàn bộ hoạt động. Thay vì tiếp cận chuyển đổi số theo từng mảng rời rạc, nhà trường lựa chọn cách làm bài bản: lấy quản trị làm trục xuyên suốt, từ đó lan tỏa sang đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổ chức cán bộ và quản trị hành chính.

Hệ thống quản trị đại học số được xây dựng như “xương sống” vận hành của toàn trường, tích hợp các nghiệp vụ cốt lõi trên một nền tảng thống nhất. Đáng chú ý, hệ thống này do chính đội ngũ giảng viên, sinh viên và cựu sinh viên của trường trực tiếp thiết kế, phát triển và vận hành, bảo đảm phù hợp với đặc thù của một trường đại học công nghệ và có khả năng mở rộng trong dài hạn.

“Chúng tôi kiên định quan điểm rằng đào tạo là trách nhiệm chung, và minh bạch là điều kiện để bảo đảm chất lượng. Mọi dữ liệu, quy trình và tương tác đều phải được quản trị thống nhất và có thể giám sát”, thầy Trình nhấn mạnh.

gdvn-truong-dai-hoc-cong-nghe-7229.jpg
Hệ thống server được đặt ngay trong Trung tâm Đại học số, Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: Ngọc Mai
gdvn-truong-dai-hoc-cong-nghe-3.jpg
Trung tâm Đại học số, Trường Đại học Công nghệ có chức năng thực hiện chuyển đổi số, quản trị và vận hành hạ tầng công nghệ của nhà trường, triển khai ứng dụng và phát triển các giải pháp công nghệ số, quản lý và phân tích dữ liệu. Ảnh: Ngọc Mai

Một trong những dấu mốc quan trọng của giai đoạn này là việc rà soát, cập nhật toàn bộ chương trình đào tạo và đề cương học phần. Tất cả các chương trình đều được tham chiếu với các trường đại học hàng đầu thế giới trong cùng lĩnh vực, đồng thời được công khai trên hệ thống quản trị đại học số để các bên liên quan theo dõi, giám sát và phản hồi.

Song song với đó, nhà trường đưa dữ liệu trở thành nền tảng cho quản trị và ra quyết định. Thông tin về chuẩn đầu ra, tiến độ học tập, kết quả đánh giá, cũng như các thủ tục hành chính được số hóa và cập nhật theo thời gian thực. Điều này giúp nhà trường chuyển từ quản lý dựa trên kinh nghiệm sang quản trị dựa trên dữ liệu, bảo đảm tính nhất quán, minh bạch và hiệu quả.

Trong mô hình này, phụ huynh cũng được xác định là một chủ thể tham gia vào quá trình đào tạo. Mỗi gia đình có sinh viên theo học đều được cấp tài khoản truy cập hệ thống để theo dõi tình hình học tập của con em theo từng ngày.

“Đây không phải là giám sát thay sinh viên, mà là tạo cơ chế đồng hành. Đào tạo đại học không thể tách rời trách nhiệm của nhà trường, người học và gia đình”, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ chia sẻ.

Nền tảng kiến tạo văn hóa tự chủ

Thực tiễn triển khai cho thấy, khi chuyển sang quản trị đại học số, các thủ tục hành chính được tinh giản rõ rệt. Dù số lượng chủ thể tham gia vào quy trình tăng lên, nhưng thời gian xử lý công việc lại giảm. Với khoảng 60 cán bộ, chuyên viên hành chính, nhà trường vẫn bảo đảm vận hành hiệu quả toàn bộ hoạt động đào tạo và quản trị.

“Chuyển đổi số không nhằm thay thế con người, mà để giải phóng nguồn lực cho con người. Khi hệ thống vận hành tốt, cán bộ và giảng viên có thêm thời gian tập trung cho dạy, học và nghiên cứu khoa học”, thầy Trình cho biết.

Ở góc độ người học, hệ thống quản trị đại học số đã đưa nội dung “lấy người học làm trung tâm” từ khẩu hiệu trở thành hành động cụ thể. Bởi, chuẩn đầu ra được công khai; tiến độ học tập được theo dõi theo từng tuần; sinh viên có thể chủ động quản trị nhiệm vụ học tập, tự đánh giá kết quả và phản hồi hoạt động đào tạo thông qua hệ thống.

Còn đối với giảng viên, hệ thống tạo điều kiện làm việc sâu sát với từng sinh viên, đồng thời nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp thông qua việc công khai bài giảng, đề cương, bài tập và phương thức đánh giá. Qua đó, góp phần bảo đảm tính công bằng, minh bạch và chất lượng trong đào tạo.

gdvn-truong-dai-hoc-cong-nghe-1.jpg
Khu vực học tập, làm việc trong Trung tâm Đại học số, Trường Đại học Công nghệ. Ảnh: Ngọc Mai

“Đại học số là công cụ quan trọng trong quản trị, nhưng hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào ý thức và trách nhiệm của mỗi chủ thể. Không có hệ thống nào có thể thay thế hoàn toàn sự chủ động của sinh viên và tâm huyết của giảng viên”, Giáo sư Chử Đức Trình nhấn mạnh.

Theo Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ, khi mỗi chủ thể trong nhà trường nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình, hệ thống quản trị đại học số sẽ thực sự trở thành nền tảng kiến tạo văn hóa tự chủ, góp phần xây dựng một mô hình đại học hiện đại, minh bạch và phát triển bền vững.

Trung tâm Đại học số, Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội có nhiệm vụ:

Xây dựng, tổ chức triển khai và giám sát việc thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của nhà trường trong công tác chuyển đổi số.

Tham mưu về chuyển đổi số:

– Tham mưu cho lãnh đạo nhà trường về chiến lược và kế hoạch phát triển chuyển đổi số, đảm bảo rằng mọi hoạt động của Trường đều được hỗ trợ bằng công nghệ.

– Đề xuất các chính sách và tiêu chuẩn để định hướng các hoạt động chuyển đổi số.

Quản trị và vận hành hạ tầng công nghệ:

– Quản lý và bảo trì hệ thống hạ tầng công nghệ, đảm bảo tính ổn định và an toàn cho các hoạt động học tập, giảng dạy và quản lý.

– Đảm bảo an toàn thông tin và bảo mật dữ liệu trong toàn bộ hệ thống công nghệ của Trường.

Ứng dụng và phát triển các giải pháp công nghệ số:

– Đẩy mạnh việc sử dụng công nghệ mới trong giảng dạy và nghiên cứu.

– Phát triển các ứng dụng học tập trực tuyến và hệ thống hỗ trợ giảng dạy hiện đại để nâng cao trải nghiệm học tập của người học.

– Cung cấp dịch vụ hỗ trợ cá nhân hóa học tập cho người học thông qua phân tích dữ liệu học tập.

Quản lý dữ liệu và phân tích:

– Thu thập, lưu trữ và quản lý dữ liệu về người học, giảng viên và các hoạt động học tập, nghiên cứu.

– Sử dụng dữ liệu lớn để phân tích hiệu quả học tập, hỗ trợ các quyết định chiến lược trong quản lý và đào tạo.

– Tạo ra các báo cáo định kỳ và cung cấp dữ liệu cho các phòng ban khác để tối ưu hóa các hoạt động của Nhà trường.

Hỗ trợ giảng dạy và nghiên cứu:

– Hỗ trợ giảng viên trong việc ứng dụng công nghệ vào giảng dạy.

– Phối hợp với các đơn vị để phát triển nội dung số và tài nguyên học tập trực tuyến.

– Nghiên cứu và đổi mới trong chuyển đổi số, giúp giảng viên và người học ứng dụng các giải pháp công nghệ vào nghiên cứu và học tập.

Ngọc Mai