Xu hướng liên ngành nhưng danh mục ngành đào tạo chậm cập nhật khiến trường đại học gặp khó

25/03/2026 06:22
Ngọc Mai

GDVN - Cơ sở giáo dục đại học cho rằng, điều kiện được bổ sung ngành mới theo Thông tư số 09 cao, danh mục ngành nghề cập nhật chậm so với thực tiễn.

Theo Công văn số 1212/BGDĐT-GDĐH ngày 17/3/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc khảo sát đề xuất sửa đổi, bổ sung danh mục ngành đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị các cơ sở giáo dục báo cáo, đánh giá các nội dung quy định tại Thông tư số 09/2022/TT-BGDĐT ngày 06/06/2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định danh mục thống kê ngành đào tạo của giáo dục đại học.

Việc khảo sát này nhằm làm rõ thực trạng phân loại và phát triển ngành, chương trình đào tạo. Qua đó, làm cơ sở hoàn thiện các quy định liên quan đến mở ngành, tuyển sinh, tổ chức đào tạo, kiểm định chất lượng cũng như cấp và quản lý văn bằng.

Ghi nhận của phóng viên cho thấy, trong quá trình triển khai Thông tư 09, nhiều cơ sở giáo dục đại học thấy có điểm thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, vướng mắc. Trên cơ sở đó, các đơn vị cũng đề xuất điều chỉnh, bổ sung một số nội dung theo hướng nâng cao tính khả thi, bảo đảm chất lượng đào tạo và tiệm cận xu thế phát triển của giáo dục đại học.

Sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh được thực hành với thiết bị tự động hóa hiện đại. Ảnh: NVCC
Sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh được thực hành với thiết bị tự động hóa hiện đại. Ảnh: NVCC

Quy định cứng mã ngành, điều kiện mở ngành khiến đào tạo liên ngành khó triển khai

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá, về tổng thể, Thông tư số 09 đã chuẩn hóa hệ thống mã ngành; bổ sung nhiều ngành mới (ví dụ như Trí tuệ nhân tạo, Khoa học dữ liệu, Công nghệ tài chính), từ đó, tạo nền tảng thống kê và quản lý thống nhất. Tuy nhiên, điều kiện được bổ sung ngành mới thì cao nhưng danh mục cập nhật chậm so với thực tiễn.

Trong thực tiễn, các cơ sở đào tạo chủ yếu phát triển chương trình đào tạo theo hướng chuyên ngành/định hướng trong phạm vi một ngành do chưa được phép mở ngành mới ngoài danh mục (trừ trường hợp đặc biệt). Điều này dẫn đến việc nhiều chương trình liên ngành, ngành mới không được phản ánh đúng bản chất, làm hạn chế tính linh hoạt và khả năng đáp ứng nhanh với nhu cầu thị trường lao động.

Do đó, thầy Nhân cho rằng, cần nghiên cứu mở rộng quyền tự chủ (kèm hậu kiểm) của cơ sở đào tạo trong việc phát triển ngành đào tạo. Đồng thời, xây dựng cơ chế linh hoạt cho phép công nhận các chương trình đào tạo liên ngành mà không bị ràng buộc cứng vào danh mục ngành hiện hành.

thay-nhan.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng phòng, Phòng đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Chưa kể, hiện nay quy định yêu cầu phải giảng viên có trình độ tiến sĩ đúng ngành (đúng 6 chữ số cuối của mã ngành) để chủ trì mở ngành đào tạo cũng gây khó khăn cho các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt đối với các ngành mới, ngành liên ngành hoặc các ngành chưa phổ biến đào tạo trình độ tiến sĩ tại Việt Nam. Chính vì vậy, theo thầy Nhân, chúng ta nên xem xét điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn. Ví dụ như cho phép sử dụng tiến sĩ ngành gần hoặc trong cùng nhóm ngành để chủ trì mở ngành, với điều kiện có minh chứng về năng lực chuyên môn, kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy phù hợp với lĩnh vực đào tạo. Quy định như vậy sẽ vừa đảm bảo chất lượng đào tạo, vừa tạo điều kiện phát triển các ngành mới, đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

Điều 4, Thông tư số 09 đã đặt ra quy định về việc rà soát, cập nhật danh mục ngành đào tạo. Tuy nhiên, thầy Nhân cho biết hiện chưa quy định cụ thể về chu kỳ, tần suất và quy trình cập nhật, dẫn đến khó khăn trong việc chủ động đề xuất ngành mới. Khó khăn này cần được tháo gỡ bằng cách quy định rõ chu kỳ cập nhật (ví dụ như hàng năm hoặc hai năm/lần) và thiết lập cơ chế tiếp nhận, xử lý đề xuất thường xuyên từ cơ sở đào tạo.

Bên cạnh đó, thầy Nhân chia sẻ, quy định tại Điều 5 Thông tư số 09 có một số vướng mắc trong quá trình triển khai. Theo đó, mặc dù quy định cho phép phân loại linh hoạt, kể cả ngành liên ngành. Nhưng lại chưa quy định rõ cơ chế quản lý và cấp bằng đối với ngành liên ngành.

“Quy định cho phép chương trình đào tạo liên ngành được phân loại vào nhiều ngành. Tuy nhiên trong thực tế, để triển khai đào tạo theo mỗi ngành, cơ sở đào tạo phải được phép mở ngành tương ứng. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc triển khai các chương trình liên ngành thực chất. Chính vì vậy, nội dung này cần có quy định riêng cho ngành liên ngành, bằng kép, chương trình tích hợp. Đồng thời, cần làm rõ cơ chế triển khai đối với chương trình đào tạo liên ngành”, thầy Nhân chia sẻ.

Cùng đưa ra đánh giá từ thực tiễn sau quá trình triển khai Thông tư số 09, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Văn – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế cho rằng, việc xác định danh mục ngành thí điểm cần được phân cấp mạnh hơn cho các cơ sở giáo dục đại học đã đạt chuẩn kiểm định chất lượng, đồng thời trao quyền chủ động cho các đại học quốc gia, đại học vùng.

Theo thầy Văn, vướng mắc lớn khi thực hiện Thông tư số 09 là cơ chế ban hành danh mục ngành thí điểm vẫn do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định. Cách tiếp cận này tạo ra “độ trễ” nhất định, khiến các cơ sở đào tạo khó chủ động mở ngành mới ngoài danh mục, trong khi nhu cầu nhân lực trên thị trường lao động biến động nhanh, đặc biệt trong bối cảnh khoa học – công nghệ và phương thức tổ chức sản xuất liên tục thay đổi.

Đáng chú ý, thầy Văn còn chỉ ra một “điểm nghẽn” kéo dài nhiều năm đối với khối ngành nông – lâm – thủy sản. Các cơ sở đào tạo cũng đã nhiều lần kiến nghị đưa ngành Chăn nuôi Thú y vào danh mục ngành thí điểm nhưng đến nay vẫn chưa được chấp thuận.

Lý giải cho đề xuất này, thầy Văn bày tỏ, nhu cầu nhân lực đối với ngành Chăn nuôi Thú y là rất lớn, đặc biệt từ phía doanh nghiệp, với yêu cầu về đội ngũ được đào tạo bài bản, có khả năng tích hợp kiến thức giữa chăn nuôi và thú y. Bên cạnh đó, ngành này cũng phù hợp với hệ thống tổ chức quản lý và nghiên cứu hiện hành, từ cấp trung ương với các cơ quan chuyên ngành, đến cấp địa phương và hệ thống doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng cao.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Văn – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế. Ảnh: website nhà trường.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Văn – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế. Ảnh: website nhà trường.

“Trong hệ thống tổ chức ngành, ở cấp trung ương có các cơ quan như Cục Chăn nuôi và Thú y, Viện Chăn nuôi và Thú y.

Đáng chú ý, nhiều doanh nghiệp lớn đang có nhu cầu rất cao đối với nguồn nhân lực trình độ đại học ngành Chăn nuôi Thú y, đặc biệt là những vị trí việc làm đòi hỏi người học phải được đào tạo tích hợp cả hai lĩnh vực chăn nuôi và thú y”, thầy Văn chia sẻ.

Khó thiết kế và phát triển chương trình đào tạo

Thông tư số 09 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng, giúp các cơ sở giáo dục đại học tuân thủ quy định về mở ngành, tuyển sinh, tổ chức đào tạo, kiểm định chất lượng cũng như cấp và quản lý văn bằng, chứng chỉ. Tuy vậy, trong bối cảnh giáo dục đại học đang chuyển mình mạnh mẽ, yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng và sự xuất hiện của nhiều ngành nghề mới, một số quy định của Thông tư này đã bộc lộ những điểm chưa còn phù hợp, cần được rà soát, điều chỉnh kịp thời.

Đại diện một số cơ sở giáo dục đại học đã chỉ ra một số khó khăn khi thực hiện quy định tại Điều 6, Thông tư số 09.

Điều 6. Bổ sung ngành mới vào Danh mục

1. Một ngành đào tạo mới được xem xét bổ sung vào một nhóm ngành cụ thể trong Danh mục ngành chính thức khi đáp ứng các điều kiện như sau:

a) Có căn cứ khoa học và thực tiễn về nguồn gốc hình thành ngành đào tạo mới (trên cơ sở tách ra từ một ngành hoặc lai ghép một số ngành theo yêu cầu phát triển của khoa học, công nghệ và thực tiễn nghề nghiệp);

b) Có sự khác biệt tối thiểu là 30% về kiến thức và kỹ năng chuyên môn so với các ngành hiện có thuộc nhóm ngành dự kiến sắp xếp trong Danh mục;

c) Có số liệu phân tích, dự báo tin cậy về nhu cầu nguồn nhân lực mà các ngành đào tạo hiện tại không đáp ứng được; đối với các ngành đã có sinh viên tốt nghiệp phải có số liệu phân tích, đánh giá tin cậy về khả năng đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực mà các ngành đào tạo khác không đáp ứng được;

d) Đã được đào tạo tại nhiều cơ sở đào tạo có uy tín trên thế giới hoặc đã được liệt kê ở ít nhất hai bảng phân loại các chương trình và ngành đào tạo thông dụng trên thế giới (trừ một số ngành chỉ đào tạo ở Việt Nam hoặc các ngành liên quan đến an ninh, quốc phòng);

đ) Đã được phát triển chương trình, tổ chức đào tạo, đánh giá và công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng kiểm định chương trình tại ít nhất hai cơ sở đào tạo trong nước và được các cơ sở đào tạo đó cùng đề xuất bổ sung vào Danh mục;

e) Đối với các ngành thuộc lĩnh vực đào tạo giáo viên, nghệ thuật, thể thao, pháp luật, sức khỏe, an ninh, quốc phòng phải có ý kiến đồng thuận của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực ngành tương ứng.

2. Một ngành đào tạo mới được xem xét bổ sung vào Danh mục ngành thí điểm khi đáp ứng điều kiện quy định tại các điểm a, b, c, d, e khoản 1 Điều này.

3. Một ngành mới khi đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét cấp mã ngành chính thức và chuyển ra khỏi Danh mục ngành thí điểm. Một ngành mới bổ sung vào Danh mục phải được ghi rõ thời gian có hiệu lực áp dụng.

Cụ thể, với Điểm b, Khoản 1, Điều 6 Thông tư số 09, thầy Nhân cho rằng rất khó để thực hiện việc đo lường. Do đó, cần thiết phải ban hành hướng dẫn cụ thể để tạo thuận lợi hơn cho việc đo lường sự khác biệt tối thiểu mà quy định đưa ra (ví dụ như chuẩn đầu ra môn học/học phần; giáo dục dựa trên kết quả).

Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh, các điểm a, b, c, d, e của Khoản 1, Điều 6 đang khiến cho việc bổ sung các ngành đào tạo vào danh mục ngành chính thức và danh mục ngành thí điểm gặp nhiều khó khăn khi đã mở đúng quy định, đáp ứng được yêu cầu tại thời điểm mở ngành nhưng ngành đào tạo không nằm trong danh mục ngành chính thức theo Thông tư số 09 và Quyết định số định số 1596/QĐ-BGDĐT ngày 10/06/2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về danh mục ngành đào tạo thí điểm các trình độ của giáo dục đại học.

Chính vì thế, cơ sở giáo dục đề xuất bỏ danh mục ngành đào tạo thí điểm và quy định danh mục ngành đào tạo các trình độ của giáo dục đại học chỉ có danh mục ngành chính thức.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Bên cạnh đó, thầy Hoàn chia sẻ thêm, tại Khoản 4, Điều 7 Thông tư số 09 quy định: “Một ngành trong Danh mục ngành thí điểm được xem xét loại bỏ nếu trong 10 năm tính từ ngày được bổ sung vào Danh mục ngành thí điểm nhưng không được chuyển sang Danh mục ngành chính thức”, khiến cho cơ sở giáo dục đào tạo gặp khó khăn trong việc thiết kế và phát triển chương trình đào tạo mới theo xu hướng hội nhập thế giới, nhu cầu xã hội mà ngành đào tạo không có trong danh mục ngành chính thức và danh mục ngành thí điểm.

“Với những khó khăn khi thực hiện Khoản 4, Điều 7 Thông tư số 09, để tháo gỡ, chúng ta cần xem xét đưa các ngành đã và đang đào tạo thí điểm được mở trước khi Thông tư số 09 có hiệu lực vào danh mục ngành chính thức”, Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất.

Ngọc Mai