Nghiên cứu khoa học bậc phổ thông cần đặt lại đúng vị trí, thay vì công trình quá năng lực lứa tuổi

04/04/2026 06:22
An Vy

GDVN -GS Vũ Minh Giang cho rằng cần tiếp cận theo hướng coi trọng quá trình hơn sản phẩm, phát hiện sáng tạo trong tư duy thay vì đánh giá giá trị “công trình”.

Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông năm học 2025-2026 có 242 dự án dự thi của 27 cá nhân, 215 tập thể; trong đó 215 dự án của học sinh trung học phổ thông và 27 dự án của học sinh trung học cơ sở, tăng 30 dự án so với Cuộc thi trước. Số học sinh tham gia cuộc thi là 457 học sinh (405 học sinh trung học phổ thông và 52 học sinh trung học cơ sở). [1]

Sau khi cuộc thi khép lại, một số ý kiến đã đặt vấn đề về tính liêm chính khoa học của một số dự án đạt giải, đồng thời nhiều nhà khoa học cho rằng cần rà soát, hoàn thiện quy trình tổ chức cũng như xác định rõ hơn ý nghĩa và mục tiêu thực chất của sân chơi này.

Nghiên cứu khoa học ở học sinh phổ thông cần đặt mục tiêu phù hợp thay vì kỳ vọng sản phẩm

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Nhà giáo Nhân dân Vũ Minh Giang - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho biết, để đánh giá đúng ý nghĩa của cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh phổ thông hiện nay, trước hết cần làm rõ cách hiểu về khái niệm “nghiên cứu khoa học”.

Thực tế, thời gian qua, hoạt động này đang được đề cao và mở rộng theo hướng khá đại trà trong nhà trường, trong khi bản chất của nghiên cứu khoa học là một quá trình khám phá, tìm tòi và sáng tạo ra tri thức mới và dựa trên bằng chứng, tư liệu đầy đủ, đòi hỏi phải có phương pháp đáng tin cậy - điều vốn thuộc về môi trường đào tạo sau phổ thông, đặc biệt là bậc đại học trở lên. Chính vì vậy, việc tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học ở bậc phổ thông cần được nhìn nhận lại về mục tiêu.

“Bản chất của giai đoạn giáo dục phổ thông là rèn luyện phương pháp tư duy khoa học, giúp học sinh hình thành cách tiếp cận vấn đề, biết đặt câu hỏi, kiểm chứng và phản biện, không phải là giai đoạn bắt buộc phải tạo ra tri thức mới. Trong khi đó, ở bậc đại học, sinh viên đã bắt đầu tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tạo tri thức cùng với giảng viên.

Ở bậc phổ thông, giá trị lớn nhất không nằm ở sản phẩm mà là hình thành tư duy phản biện, biết làm việc có bằng chứng, tránh học thuộc máy móc. Quan điểm cho rằng học sinh phổ thông cũng có thể nghiên cứu và tạo ra các công trình khoa học như người trưởng thành nhưng cách tiếp cận này là chưa đúng với đặc trưng của từng bậc học.

Điều quan trọng không nằm ở sản phẩm cuối cùng mà ở quá trình học sinh hình thành ý tưởng, thử nghiệm, kiểm chứng và phản biện. Nói cách khác, hoạt động này nên gắn với định hướng giáo dục liên ngành (STEM), giúp học sinh tiếp cận phương pháp tư duy, thay vì làm theo cách nghiên cứu chuyên sâu của người trưởng thành”, Giáo sư Vũ Minh Giang cho hay.

1775101131437.png
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Nhà giáo Nhân dân Vũ Minh Giang - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Ảnh: Nhật Lệ.

Bên cạnh đó, để bảo đảm tính thực chất của các cuộc thi nghiên cứu khoa học ở bậc phổ thông, theo Giáo sư Vũ Minh Giang, trước hết cần thiết kế đề tài theo hướng vừa tầm, phù hợp với năng lực và đặc điểm lứa tuổi học sinh. Quan trọng hơn, việc đánh giá không nên đặt nặng vào kết quả mà cần chú trọng vào quá trình thực hiện.

Ngược lại, nếu coi các dự án tham gia như những công trình khoa học hoàn chỉnh sẽ nảy sinh nhiều bất cập, bởi năng lực của học sinh phổ thông khó có thể đáp ứng yêu cầu sáng tạo ra sản phẩm ở mức độ cao. Trong bối cảnh đó, vấn đề khách quan, minh bạch trong chấm thi trở nên đặc biệt quan trọng. Cần thay đổi cách tiếp cận, tập trung phát hiện sự sáng tạo trong tư duy của học sinh thay vì đánh giá giá trị “công trình”.

Nghiên cứu khoa học ở bậc phổ thông là cần thiết nhưng phải đặt đúng vị trí. Đây nên được xem là bước chuẩn bị cho bậc học cao hơn và nghề nghiệp tương lai, không phải nơi kỳ vọng học sinh tạo ra những sản phẩm khoa học vượt quá năng lực lứa tuổi. Đồng thời, cần thận trọng xem xét những dự án có dấu hiệu vượt quá năng lực của học sinh phổ thông, góp phần bảo đảm tính trung thực và giá trị thực chất của sân chơi này.

Bàn về vấn đề này, Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Ưu tú Cao Cự Giác - Chuyên gia cao cấp Trường Đại học Vinh, Phó Chủ tịch Hội Giảng dạy Hoá học Việt Nam, Chủ tịch Hội Hoá học Nghệ An cho biết, thay vì chỉ nhìn cuộc thi như một “bảng vàng” thành tích, cần tiếp cận nó như một hành trình khám phá tri thức của học sinh.

Ý nghĩa cốt lõi của cuộc thi không nằm ở giải thưởng mà ở quá trình học sinh nhận ra kiến thức trong sách giáo khoa không phải là những nội dung tĩnh, mà là công cụ để lý giải và tác động tới thực tiễn. Qua đó, cuộc thi góp phần bồi đắp sự tự tin, tinh thần trách nhiệm và năng lực tư duy phản biện - những yếu tố quan trọng để học sinh thích ứng với yêu cầu của xã hội hiện đại.

Ngoài ra, sự xuất hiện của những đề tài mang tính vĩ mô trong một cuộc thi dành cho học sinh đã tạo ra nhiều luồng ý kiến trái chiều. Khoa học vốn không giới hạn độ tuổi; tuy nhiên, giá trị của một đề tài không nằm ở những thuật ngữ phức tạp hay quy mô hoành tráng mà ở mức độ phù hợp với năng lực người học.

Khi một nghiên cứu vượt quá khả năng phân tích và thực hành của học sinh, nó dễ trở thành “chiếc áo quá rộng”, làm phai nhạt tính tự nhiên của sáng tạo và khó tránh khỏi những nghi ngờ từ dư luận. Thay vì nghiên cứu những công trình xa rời thực tiễn, các đề tài nên xuất phát từ chính đời sống xung quanh học sinh - nơi các em có thể nhận diện và giải quyết những vấn đề cụ thể của trường học, địa phương mình.

1775101131650.png
Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Ưu tú Cao Cự Giác - Chuyên gia cao cấp Trường Đại học Vinh, Phó Chủ tịch Hội Giảng dạy Hoá học Việt Nam, Chủ tịch Hội Hoá học Nghệ An. Ảnh: NVCC.

Đồng thời, để phân định rõ giữa sản phẩm do học sinh thực hiện và sự hỗ trợ từ giáo viên, nhà khoa học, Giáo sư Cao Cự Giác cho rằng cần một cách tiếp cận đánh giá toàn diện. Theo đó, dấu ấn cá nhân của học sinh sẽ được thể hiện rõ nhất qua quá trình thực hiện: từ nhật ký nghiên cứu, các ghi chép thử nghiệm đến cách các em lý giải, bảo vệ đề tài trước hội đồng. Chính năng lực trình bày, phản biện và làm chủ vấn đề mới là “thước đo” xác thực cho mức độ tham gia thực chất của học sinh.

Vai trò của giáo viên và nhà khoa học nên dừng ở mức định hướng, hỗ trợ về phương pháp, thay vì can thiệp sâu vào nội dung. Chỉ khi quá trình được đánh giá cao hơn kết quả, cuộc thi mới có thể bảo đảm tính liêm chính khoa học, đồng thời nuôi dưỡng được đam mê và năng lực nghiên cứu thực chất cho học sinh.

Công khai kết quả nhưng quy trình vẫn nằm ngoài giám sát

Cũng theo Giáo sư Cao Cự Giác, Thông tư 24/2025/TT-BGDĐT sửa đổi Quy chế Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông yêu cầu công khai báo cáo kết quả thực hiện dự án và trưng bày bảng thuyết minh ngay tại khu vực tổ chức cuộc thi là một bước tiến đáng ghi nhận về tính minh bạch. Tuy nhiên, việc trưng bày trực tiếp chỉ dừng lại như một “triển lãm nội bộ” với phạm vi tiếp cận hạn chế, các ý tưởng chỉ được nhìn thấy bởi những người có mặt tại khán phòng.

Để tạo ra một cơ chế phản biện xã hội thực chất, cần thiết lập một “hệ sinh thái dữ liệu mở”, trong đó mọi dự án không chỉ dừng ở poster mà phải được số hoá, lưu trữ và công khai trên một nền tảng trực tuyến tập trung.

Chỉ khi các báo cáo được đặt dưới sự đối soát của công nghệ như các thuật toán phát hiện trùng lặp và sự giám sát rộng rãi của cộng đồng giáo viên, học sinh trên cả nước, những dự án “mượn ý tưởng” hay “tái chế” mới có thể bị nhận diện và loại bỏ từ gốc.

“Để chấm dứt những hoài nghi kéo dài qua nhiều mùa giải, không thể chỉ dựa vào sự công tâm mang tính cảm tính mà cần một “cuộc cách mạng về minh bạch” được bảo đảm bằng các hàng rào kỹ thuật cụ thể. Công khai tiêu chí và quy trình chấm không nên dừng ở văn bản hành chính mà phải trở thành một cam kết trách nhiệm, trong đó mỗi điểm số đều đi kèm với lý giải rõ ràng về tính nguyên bản và năng lực thực hiện của học sinh.

Đặc biệt, cần thiết lập hội đồng phản biện độc lập và cơ chế hậu kiểm nghiêm ngặt đối với các đề tài đạt giải cao. Chính sự khắt khe này là “bộ lọc vàng” cần thiết để loại bỏ các dự án vay mượn, đồng thời trả lại sự công bằng cho những học sinh làm nghiên cứu một cách nghiêm túc. Chỉ khi trách nhiệm giải trình được đặt ở vị trí trung tâm, cuộc thi mới có thể trở thành môi trường nuôi dưỡng sáng tạo và củng cố niềm tin xã hội”, Giáo sư Cao Cự Giác cho hay.

Theo Giáo sư Vũ Minh Giang, quy định mới về việc các dự án chỉ nộp báo cáo kết quả và trưng bày, thuyết minh sau khi hoàn thành vẫn chưa đủ để bảo đảm tính minh bạch và khả năng phản biện của cộng đồng khoa học. Cách làm này về bản chất vẫn là “làm kín”, khi toàn bộ quá trình nghiên cứu diễn ra âm thầm, không có cơ chế giám sát xuyên suốt khiến việc kiểm chứng trở nên khó khăn và độ tin cậy không cao.

“Nếu không kiểm soát được quá trình rất dễ xảy ra tình trạng học sinh nhận sự hỗ trợ sâu từ người lớn, thậm chí bị “làm thay” ở một số khâu. Khi đó, dù có hậu kiểm hay phản biện độc lập ở giai đoạn cuối cũng khó phát hiện đầy đủ, bởi sản phẩm đã được hoàn thiện trước khi công khai. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến những tranh cãi lặp lại qua các năm.

Từ thực tế này, tôi cho rằng cần nhìn lại cách tổ chức cuộc thi ngay từ gốc, thay vì chỉ “vá lỗi” ở từng khâu. Khi đặt sai mục tiêu, việc chạy theo các sản phẩm ấn tượng, độc đáo là khó tránh khỏi, kéo theo nguy cơ thiếu trung thực. Theo đó, cách thức tổ chức cũng cần thay đổi theo hướng kiểm soát được quá trình, tương tự như các kỳ thi học sinh giỏi hoặc kỳ thi Olympic, nơi thí sinh phải trực tiếp giải quyết vấn đề trong điều kiện có giám sát. Trong khi đó, nếu “thả nổi” hoạt động nghiên cứu trong thời gian dài, học sinh dễ tìm đến sự trợ giúp từ nhiều nguồn khác nhau, làm sai lệch bản chất của cuộc thi”, Giáo sư Vũ Minh Giang cho hay.

Tóm lại, vấn đề không nằm ở việc có nên duy trì cuộc thi hay không mà ở cách tiếp cận: cần đặt đúng mục tiêu, thiết kế lại quy trình theo hướng coi trọng quá trình hơn sản phẩm, đồng thời bảo đảm cơ chế giám sát phù hợp. Chỉ khi đó, hoạt động nghiên cứu khoa học ở bậc phổ thông mới thực sự trở thành môi trường rèn luyện tư duy, thay vì chạy theo thành tích và hình thức.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://giaoduc.net.vn/lan-dau-tien-100-dia-phuong-tham-gia-cuoc-thi-nghien-cuu-khoa-hoc-ky-thuat-danh-cho-hs-trung-hoc-post258632.gd

An Vy