Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 530/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam.
Theo đó, một trong những nhiệm vụ, giải pháp về hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách là cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình cấp giấy phép lao động, thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, cấp thị thực cư trú và các thủ tục khác liên quan. Xây dựng chính sách tạo điều kiện thuận lợi về môi trường sống, nhà ở và các dịch vụ công thiết yếu nhằm giúp chuyên gia, nhà khoa học và gia đình được ổn định cuộc sống tại Việt Nam.
Thời hạn giấy phép lao động cho chuyên gia nước ngoài cần điều chỉnh linh hoạt hơn
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá: “Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và hội nhập tri thức toàn cầu, việc ban hành chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam là bước đi cần thiết và có ý nghĩa chiến lược.
Thực tế cho thấy, khoa học công nghệ của Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể, không còn chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận tri thức, mà đang từng bước tham gia vào quá trình sáng tạo và tiến tới làm chủ công nghệ. Tuy nhiên, so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, khoảng cách vẫn còn hiện hữu.
Chính vì vậy, việc thu hút chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài và kiều bào về Việt Nam làm việc, giảng dạy không chỉ nhằm bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao, mà còn đóng vai trò như những hạt nhân lan tỏa. Họ mang theo tri thức mới, phương pháp làm việc hiện đại, tư duy nghiên cứu tiên tiến, qua đó góp phần nâng cao năng lực của đội ngũ trong nước. Đồng thời, sự hiện diện của họ cũng tạo ra môi trường học hỏi trực tiếp, giúp giảng viên và nhà nghiên cứu trong nước có cơ hội tiếp cận, trao đổi và phát triển chuyên môn tốt hơn.
Nếu được triển khai đồng bộ, từ cải cách thủ tục hành chính, nâng cấp môi trường làm việc đến hoàn thiện chính sách đãi ngộ và điều kiện sống, chương trình này hoàn toàn có thể tạo ra những chuyển biến rõ nét trong chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Việt Nam trong thời gian tới”.
Từ thực tiễn triển khai, thầy Phúc nhận định, giải pháp cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình cấp giấy phép lao động, thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, cấp thị thực cư trú và các thủ tục khác liên quan cho chuyên gia, nhà khoa học đến Việt Nam là hoàn toàn đúng hướng.
“Một trong những khó khăn lớn hiện nay là thời hạn của giấy phép lao động còn ngắn, chưa phù hợp với đặc thù hoạt động giảng dạy và nghiên cứu trong các cơ sở giáo dục. Ví dụ thực tế, nhà trường mời chuyên gia quốc tế về giảng dạy theo học kỳ, thường kéo dài khoảng 6 tháng, nhưng giấy phép lao động được cấp chỉ có thời hạn là 3 tháng. Do đó, nhà trường và chuyên gia phải thực hiện thêm các thủ tục xuất - nhập cảnh giữa chừng để gia hạn, gây phát sinh chi phí, gián đoạn công việc. Vì vậy, thời hạn giấy phép lao động nên được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn, phù hợp với thời gian giảng dạy và nghiên cứu để bảo đảm tính liên tục và nâng cao hiệu quả hợp tác.
Mặt khác, thủ tục về giấy phép lao động theo Nghị định 219/2025/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam đã có phần đơn giản hóa hơn so với quy định tại Nghị định số 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 70/2023/NĐ-CP) do đã phân cấp, phân quyền về địa phương quản lý và thực hiện, nhà trường không cần trực tiếp đến thành phố Hà Nội để hoàn thiện thủ tục như trước đây.
Cùng với đó, một số bước trong quy trình thực hiện cũng được cắt giảm và đơn giản hóa hơn giúp tiết kiệm thời gian và tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục. Song, để thực sự tạo thuận lợi hơn nữa vẫn cần tiếp tục đẩy mạnh số hóa quy trình, đồng bộ dữ liệu giữa các cơ quan và hạn chế tối đa các khâu trung gian không cần thiết”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ.
Cùng bàn về nội dung này, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Trung - Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh: “Các thủ tục hành chính liên quan đến giấy phép lao động, thị thực và cư trú cho chuyên gia nước ngoài hoặc kiều bào về làm việc tại Việt Nam trong thời gian qua nhìn chung đã được giản lược đáng kể, không phát sinh nhiều vướng mắc.
Nhà trường thường mời chuyên gia quốc tế tham gia giảng dạy theo chương trình hợp tác ngắn hạn, thời gian lưu trú thường chỉ kéo dài khoảng 1-2 tháng, nên các quy định, thủ tục hiện hành cơ bản vẫn đáp ứng được yêu cầu, chưa tạo áp lực đáng kể cho phía nhà trường.
Tuy nhiên, với mục tiêu thu hút 500 chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và kiều bào có nguyện vọng làm việc toàn thời gian tại các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam thì các quy định về thời hạn thị thực, giấy phép lao động hay cơ chế tuyển dụng chính thức (biên chế, hợp đồng dài hạn) cần được thay đổi, điều chỉnh phù hợp hơn với thực tế để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đào tạo của nhà trường.
Bởi nếu thời hạn của giấy phép lao động, thị thực và cư trú không tương thích với thời gian giảng dạy hoặc nghiên cứu của chuyên gia, nhà khoa học sẽ phần nào làm gián đoạn kế hoạch nhân sự và tác động đến mục tiêu đặt ra của nhà trường khi mời chuyên gia nước ngoài đến hợp tác giảng dạy”.
4 yếu tố cốt lõi để thu hút và giữ chân chuyên gia quốc tế làm việc lâu dài tại Việt Nam
Bên cạnh các thủ tục hành chính, môi trường làm việc được xem là yếu tố mang tính quyết định trong việc thu hút và đặc biệt là giữ chân đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài và kiều bào về nước giảng dạy.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc chia sẻ: “Trên thực tế, động lực để các chuyên gia quốc tế đến Việt Nam làm việc không chỉ xuất phát từ yếu tố tình cảm hay mong muốn trải nghiệm môi trường mới, mà còn gắn chặt với điều kiện làm việc và cơ hội phát triển chuyên môn.
Đối với các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, yêu cầu về cơ sở vật chất rất cao, bao gồm hệ thống phòng thí nghiệm, không gian nghiên cứu, trang thiết bị hiện đại cũng như đội ngũ cộng sự đủ năng lực để phối hợp. Nếu không đảm bảo được những điều kiện này sẽ dẫn đến trường hợp thu hút được chuyên gia nhưng không giữ chân họ được lâu dài”.
Về chính sách hỗ trợ môi trường sống và nhà ở, thầy Phúc cho biết, hiện nay các cơ sở giáo dục chủ yếu áp dụng những giải pháp mang tính linh hoạt và tạm thời. Với các chuyên gia làm việc ngắn hạn, nhà trường thường hỗ trợ bố trí khách sạn cho họ. Trong khi đó, đối với những người có thời gian làm việc dài hơn, nhà trường đã cải tạo phòng ở trong ký túc xá ở khu vực gần trường để đáp ứng nhu cầu cơ bản. Đồng thời, nhà trường cũng từng bước nâng cấp phòng làm việc, phòng thí nghiệm nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu của chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài.
Việt Nam đặt mục tiêu thu hút 1.500 chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài và kiều bào về nước làm việc
“Tuy nhiên, nếu xét về dài hạn và trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, các chính sách hiện tại vẫn chưa đủ sức hấp dẫn. Bởi nhiều chuyên gia khi sang Việt Nam không đi một mình mà còn có thể đưa theo gia đình. Khi đó, nhu cầu về không gian sống, tiện ích sinh hoạt, giáo dục cho con cái, dịch vụ y tế,... trở nên quan trọng hơn rất nhiều. Việc bố trí chỗ ở trong ký túc xá rõ ràng chỉ là giải pháp tình thế, khó có thể đáp ứng kỳ vọng của các chuyên gia chất lượng cao.
Vì vậy, cần có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi hơn về môi trường sống như hỗ trợ thuê căn hộ bên ngoài hoặc phát triển các khu nhà ở dành riêng cho chuyên gia với đầy đủ tiện ích. Qua đó, thể hiện cam kết lâu dài của Việt Nam trong việc thu hút và trọng dụng nhân tài quốc tế”, thầy Phúc nêu ý kiến.
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đức Trung cho rằng, với đặc thù là những người có trình độ cao, các nhà khoa học cần một không gian làm việc mang tính tự chủ và sáng tạo với phòng làm việc riêng, hệ thống dữ liệu đầy đủ, phòng thí nghiệm đạt chuẩn, cũng như nguồn lực tài chính đủ để triển khai các đề tài nghiên cứu có chất lượng.
Thầy Trung phân tích thêm: “Kinh nghiệm từ một số quốc gia và tổ chức cho thấy, để thu hút nhân tài quốc tế, việc đầu tư bài bản vào hạ tầng nghiên cứu, thậm chí xây dựng các trung tâm, phòng thí nghiệm chuyên biệt với mức đầu tư lớn đóng vai trò rất quan trọng.
Đồng thời, chính sách hỗ trợ đời sống cũng cần được thiết kế ở mức tương xứng. Với các chuyên gia làm việc ngắn hạn, việc bố trí lưu trú tại khách sạn tiêu chuẩn cao, hỗ trợ phương tiện đi lại, sinh hoạt là giải pháp phù hợp và đã được nhà trường áp dụng hiệu quả. Song, với trường hợp cơ sở giáo dục tuyển dụng chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài trở thành viên chức, giảng viên cơ hữu thì yêu cầu đặt ra sẽ cao hơn, bao gồm nhà ở riêng, phương tiện di chuyển, thậm chí là các điều kiện đi kèm như trường học cho con của họ, cùng dịch vụ y tế chất lượng cao”.
Do đó, theo thầy Trung, để chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài và kiều bào về Việt Nam làm việc thực sự phát huy hiệu quả, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút nhân tài và giữ chân chuyên gia, nhà khoa học lâu dài, có thể xem xét 4 yếu tố cốt lõi:
Thứ nhất, sự phù hợp, thích nghi về văn hóa và kỳ vọng của chuyên gia đối với nhà trường. Ngay từ giai đoạn ký kết hợp đồng, cần làm rõ các điều kiện làm việc, trách nhiệm và quyền lợi để đảm bảo sự đồng thuận giữa hai bên, cũng như giúp chuyên gia có thể sớm thích nghi với môi trường làm việc tại Việt Nam.
Thứ hai là chế độ đãi ngộ cho chuyên gia, nhà khoa học không chỉ dừng ở lương, thưởng, công bố bài báo, nghiên cứu quốc tế mà cần bao gồm cả môi trường sống, nhà ở, đi lại và các điều kiện sinh hoạt cho người thân đi kèm.
Thứ ba là cơ hội phát triển nghề nghiệp công bằng. Cần xây dựng cơ chế đánh giá, thăng tiến minh bạch, đảm bảo sự bình đẳng giữa chuyên gia quốc tế và giảng viên trong nước.
Thứ tư, xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả công việc (KPI) rõ ràng, minh bạch, gắn với mục tiêu cụ thể, đồng thời trao quyền tự chủ học thuật để họ phát huy tối đa năng lực.
Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh thêm: “Ngoài các yếu tố kể trên, một vấn đề khác cũng rất quan trọng nhưng ít được quan tâm hơn chính là chất lượng dịch vụ y tế. Đối với các chuyên gia quốc tế, đặc biệt là những người lớn tuổi hoặc có gia đình đi cùng, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao là một trong những tiêu chí quan trọng khi họ lựa chọn nơi làm việc lâu dài.
Vì vậy, Việt Nam cần một cách tiếp cận tổng thể, không chỉ dừng ở cải cách thủ tục hành chính, mà phải đồng thời nâng cấp môi trường làm việc, hoàn thiện chính sách đãi ngộ và cải thiện chất lượng dịch vụ công. Chỉ khi giải quyết đồng bộ các yếu tố này, mục tiêu thu hút và giữ chân nhân tài quốc tế mới có thể đạt được hiệu quả tốt nhất”.