Giảm 40-60% giờ giảng cho GS, PGS: Gỡ "nút thắt" thiếu hụt thời gian nghiên cứu chuyên sâu

23/04/2026 06:22
Mạnh Dũng

GDVN - Việc được giảm 40-60% giờ giảng sẽ tạo ra một nguồn thời gian đáng kể để GS, PGS đầu tư cho nghiên cứu khoa học, nhất là các nghiên cứu chuyên sâu.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 125/2026/NĐ-CP (Nghị định số 125) ngày 6 tháng 4 năm 2026 quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học, thay thế Nghị định số 109/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022.

Đáng chú ý, Nghị định nêu rõ giáo sư có thể được giảm tới 60% giờ giảng, phó giáo sư giảm tới 40%, thậm chí được tạm dừng giảng dạy tối đa 1 năm để phục vụ nghiên cứu và hợp tác quốc tế.

Theo đại diện một số trường đại học, việc giảm giờ giảng cho giáo sư, phó giáo sư giúp đội ngũ này yên tâm trong việc xây dựng nhóm nghiên cứu và chủ động hơn về mặt thời gian. Song, để chính sách này thực sự phát huy hiệu quả, cần cơ chế đồng bộ về tài chính cũng như tạo điều kiện về môi trường nghiên cứu thuận lợi.

Đổi mới quan trọng về chính sách quản lý, tạo ra quỹ thời gian liên tục cho hoạt động khoa học

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quý Mười - Trưởng khoa, Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, Ủy viên Ban chấp hành Hội Toán học Việt Nam (nhiệm kỳ 2023-2028) cho rằng, điểm đột phá quan trọng của quy định giảm giờ giảng cho giáo sư, phó giáo sư nằm ở việc giải quyết đúng một “nút thắt” tồn tại lâu nay trong hệ thống giáo dục đại học, đó là sự thiếu hụt thời gian dành cho nghiên cứu chuyên sâu.

Trong thực tế, hoạt động nghiên cứu khoa học đòi hỏi những khoảng thời gian dài và liên tục để suy nghĩ, thử nghiệm và phát triển ý tưởng. Khi giảng viên phải gánh khối lượng giảng dạy lớn, thời gian dành cho nghiên cứu thường bị chia cắt, khó có thể theo đuổi những bài toán dài hạn hoặc có độ rủi ro cao.

Việc cho phép giáo sư, phó giáo sư giảm 40–60% giờ giảng, thậm chí có thể tạm dừng giảng dạy một năm để tập trung nghiên cứu, về bản chất là tạo ra một quỹ thời gian liên tục cho hoạt động khoa học. Khi có điều kiện như vậy, các nhà khoa học có thể đầu tư chiều sâu cho những hướng nghiên cứu lớn, xây dựng các chương trình hợp tác quốc tế, hoặc phát triển những đề tài có tính liên ngành và có khả năng tạo ra các kết quả khoa học có giá trị cao hơn.

Tuy nhiên, để chính sách này phát huy hiệu quả, cần gắn việc giảm giờ giảng với cơ chế đánh giá kết quả nghiên cứu rõ ràng và minh bạch. Khi đó, việc giảm tải giảng dạy không chỉ giúp nhà khoa học có thêm thời gian, mà còn tạo ra động lực để họ tập trung vào các công trình có chất lượng và tác động cao, thay vì chạy theo số lượng công bố ngắn hạn.

thay-pham-quy-muoi.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quý Mười – Trưởng khoa, Khoa Toán - Tin, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, Ủy viên Ban chấp hành Hội Toán học Việt Nam (nhiệm kỳ 2023-2028). Ảnh: NVCC.

Cùng chia sẻ về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Hồng - Phó Viện trưởng phụ trách Viện Sư phạm Kỹ thuật, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, thực tế, số người làm nghiên cứu khoa học chủ yếu làm việc ở các cơ sở giáo dục, mà nòng cốt là các giáo sư, phó giáo sư. Đây là những giảng viên có khả năng nghiên cứu khoa học, tổ chức và dẫn dắt các nhóm nghiên cứu. Vì vậy, việc ưu tiên thời gian cho hoạt động nghiên cứu khoa học của các giáo sư, phó giáo sư theo Nghị định số 125 là một chính sách phù hợp, đặc biệt trong bối cảnh kiến thức được cập nhật liên tục, công nghệ phát triển rất nhanh, mọi vấn đề cần được nghiên cứu, giải quyết cụ thể.

Hiện nay, một số cơ sở giáo dục đại học cũng có những chính sách linh hoạt về thời gian cho những giảng viên chọn chế độ làm việc theo hướng nghiên cứu. Do đó, khi Nghị định này ra đời sẽ giúp củng cố cơ sở pháp lý cho việc vận dụng, giúp các giáo sư, phó giáo sư yên tâm hơn trong việc xây dựng nhóm nghiên cứu, chủ động hơn về mặt thời gian khi lựa chọn, đăng ký và triển khai nghiên cứu có chiều sâu, nối tiếp để tạo ra những sản phẩm nghiên cứu thiết thực, đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

image-12.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Văn Hồng - Phó Viện trưởng phụ trách Viện Sư phạm Kỹ thuật, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Nhân vật từng cung cấp

Còn theo lãnh đạo Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật, Đại học Đà Nẵng cho rằng, việc cho phép giáo sư, phó giáo sư giảm từ 40 - 60% giờ giảng, thậm chí tạm dừng giảng dạy trong 1 năm để tập trung nghiên cứu là một đổi mới quan trọng về chính sách quản lý đội ngũ giảng viên, nhà khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học.

Trong thực tế vận hành các trường đại học, đào tạo và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ không thể tách rời. Với định mức phổ biến từ 200-350 giờ giảng dạy mỗi năm, việc giảm 40-60% giờ giảng sẽ tạo ra một nguồn thời gian đáng kể để thầy cô đầu tư cho nghiên cứu khoa học. Đây là điều kiện tích cực và cần thiết, đặc biệt đối với những đề tài nghiên cứu dài hạn, đòi hỏi chiều sâu lý thuyết và thực tiễn.

Tuy nhiên, để thực sự thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học cần có thêm cơ chế bù đắp thu nhập phù hợp từ hoạt động nghiên cứu, tương ứng với hoạt động giảng dạy. Có thể nói quy định giảm giờ giảng là điều kiện cần để giải quyết bài toán thời gian. Song, để chính sách này thực sự phát huy hiệu quả, cần đồng bộ với các cơ chế về tài chính, đánh giá và môi trường nghiên cứu, từ đó tạo ra động lực đủ mạnh để các nhà khoa học yên tâm theo đuổi những hướng nghiên cứu dài hơi, có giá trị.

Cần xây dựng nhóm nghiên cứu theo nguyên tắc phù hợp với đặc thù học thuật của từng lĩnh vực

Điều 6, Nghị định số 125 quy định về nhóm nghiên cứu tiềm năng và nhóm nghiên cứu mạnh trong cơ sở giáo dục đại học. Trong đó, có các tiêu chí và điều kiện để công nhận hoặc công nhận lại, không công nhận với nhóm, trưởng nhóm, thành viên như số lượng bài báo, quyền sở hữu trí tuệ, công trình nghiên cứu khoa học

Theo thầy Bùi Văn Hồng, đối với các nhóm nghiên cứu này, các tiêu chí và điều kiện cần được quy định cụ thể. Bởi, bài báo quốc tế, sở hữu trí tuệ hay chuyển giao công nghệ là những sản phẩm đầu ra của hoạt động nghiên cứu khoa học, nên các sản phẩm này có tính chuyên ngành rất rõ ràng. Trong xu hướng hiện nay, trừ những khối ngành đặc thù, thì hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu đều có thể công bố kết quả nghiên cứu dưới dạng bài báo quốc tế, sở hữu trí tuệ hay chuyển giao công nghệ. Hình thức, mức độ và phạm vi công bố tùy thuộc vào lĩnh vực, quy mô và kinh phí của mỗi đề tài nghiên cứu.

Song, để sử dụng các kết quả đầu ra về bài báo quốc tế, sở hữu trí tuệ hay chuyển giao công nghệ làm tiêu chí xét công nhận nhóm nghiên cứu mạnh và tiềm năng, thì nên xét đến tính phổ biến của các lĩnh vực nghiên cứu; tính giá trị của sản phẩm nghiên cứu đối với sở hữu trí tuệ hay chuyển giao công nghệ; đặc biệt xét đến tính chất, vai trò của khối ngành hay lĩnh vực nghiên cứu đối với sự phát triển của xã hội.

Còn theo thầy Phạm Quý Mười, việc xây dựng tiêu chí cho nhóm nghiên cứu mạnh, tiềm năng cần dựa trên một số nguyên tắc cốt lõi để vừa đảm bảo chuẩn mực quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

Trước hết, tiêu chí cần được phân hóa theo lĩnh vực. Mỗi ngành khoa học có đặc thù khác nhau về hình thức công bố và đóng góp học thuật. Chẳng hạn, trong lĩnh vực công nghệ thông tin, nhiều công trình quan trọng được công bố tại các hội nghị quốc tế hàng đầu, trong khi ở các ngành khoa học xã hội và nhân văn, sách chuyên khảo hoặc các công trình lý luận có thể có giá trị học thuật rất lớn. Vì vậy, hệ thống tiêu chí cần được chuẩn hóa theo từng lĩnh vực thay vì áp dụng một thước đo chung cho tất cả các ngành.

Đồng thời, cần đa dạng hóa cách nhìn về sản phẩm khoa học. Ngoài bài báo quốc tế, hệ thống đánh giá cũng nên ghi nhận các sản phẩm như bằng sáng chế, giải pháp công nghệ, hợp đồng chuyển giao, hay các báo cáo chính sách có tác động thực tiễn. Điều này sẽ khuyến khích các nhóm nghiên cứu gắn kết chặt chẽ hơn với nhu cầu của xã hội và doanh nghiệp.

Mặt khác, việc đánh giá cần được thực hiện theo chu kỳ và có tính cạnh tranh. Một nhóm nghiên cứu không nên được công nhận một lần và giữ danh hiệu đó lâu dài, mà cần được đánh giá lại định kỳ để đảm bảo chất lượng hoạt động. Cơ chế này vừa tạo động lực phát triển cho nhóm, vừa đảm bảo sự minh bạch và công bằng trong phân bổ nguồn lực nghiên cứu.

Thầy Mười cũng kỳ vọng rằng, nếu các yếu tố về thời gian, nhân lực và tài chính được kết nối một cách đồng bộ, sẽ hình thành một hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo thực sự trong các cơ sở giáo dục đại học. Trong hệ sinh thái đó, các nhóm nghiên cứu sẽ trở thành những đơn vị hạt nhân, nơi tập hợp nhà khoa học, nghiên cứu sinh và sinh viên cùng làm việc trong chương trình nghiên cứu dài hạn.

Trong khi đó, theo lãnh đạo Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật, Đại học Đà Nẵng, việc xây dựng tiêu chí định lượng cho nhóm nghiên cứu mạnh là cần thiết, nhưng nếu thiết kế theo một “mặt bằng chung” thì rất dễ dẫn đến lệch chuẩn giữa các khối ngành. Do đó, tiêu chí về bài báo quốc tế, sở hữu trí tuệ hay chuyển giao công nghệ cần dựa trên một số nguyên tắc cốt lõi sau:

Thứ nhất là nguyên tắc phù hợp với đặc thù học thuật của từng lĩnh vực. Ví dụ, khối kỹ thuật – công nghệ có thể đo bằng bài báo thuộc danh mục WoS/Scopus, bằng sáng chế, giải pháp hữu ích hay sản phẩm chuyển giao. Trong khi đó, khối khoa học xã hội và nhân văn lại có thế mạnh ở sách chuyên khảo, báo cáo chính sách, hoặc tác động xã hội. Nếu áp cùng một “thước đo bài báo quốc tế” sẽ không phản ánh đúng năng lực nghiên cứu.

Thứ hai là nguyên tắc kết hợp giữa số lượng và chất lượng. Không nên chỉ đếm số bài báo, mà cần tính đến chất lượng như thứ hạng tạp chí, mức độ trích dẫn, vai trò tác giả, cũng như tính mới và mức độ đóng góp học thuật. Tương tự, với sở hữu trí tuệ, cần phân biệt rõ giữa bằng sáng chế có khả năng thương mại hóa và những đăng ký mang tính hình thức.

Thứ ba là nguyên tắc gắn với đầu ra và tác động thực tiễn. Đối với các ngành ứng dụng, tiêu chí cần ưu tiên là sản phẩm chuyển giao công nghệ, hợp đồng với doanh nghiệp, hoặc mức độ thương mại hóa. Một nhóm có ít bài báo nhưng tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao thì vẫn cần được đánh giá là mạnh.

Thứ tư là nguyên tắc tính đến chu kỳ và đặc thù của nghiên cứu dài hạn. Một số lĩnh vực như vật liệu, năng lượng, y sinh… có chu kỳ nghiên cứu dài, không thể mỗi năm đều có sản phẩm. Vì vậy, cần có cơ chế đánh giá theo giai đoạn (3–5 năm), tránh gây áp lực “ngắn hạn hóa” nghiên cứu.

Thứ năm là nguyên tắc đánh giá theo nhóm thay vì cá nhân đơn lẻ. Nhóm nghiên cứu mạnh phải thể hiện được tính liên kết, phân công vai trò rõ ràng giữa trưởng nhóm và các thành viên, có năng lực dẫn dắt nghiên cứu, thu hút nguồn lực và đào tạo nhân lực. Do đó, tiêu chí cần phản ánh được sức mạnh tổng thể chứ không chỉ là thành tích cộng gộp.

spkt-dn.jpg
Giảng viên và sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật, Đại học Đà Nẵng. Ảnh minh họa: NTCC.

Ngoài ra, đi cùng với những hỗ trợ về hoạt động khoa học là yêu cầu về trách nhiệm giải trình. Đây là vấn đề phức tạp và không thể xử lý bằng các chế tài “cứng” một cách đơn giản, mà trước hết cần xây dựng một hệ thống quy định về liêm chính khoa học đầy đủ, rõ ràng làm căn cứ phân loại và xử lý từng trường hợp cụ thể.

Trước hết, cần phân biệt rõ bản chất của các vi phạm. Việc một bài báo bị gỡ không đồng nghĩa với gian lận, vì có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có trường hợp tác giả chủ động rút bài để đảm bảo chất lượng khi phát hiện sai sót. Ngược lại, các hành vi như đạo văn, làm giả dữ liệu, thao túng trích dẫn hay “mua bán” công bố mới là những vi phạm nghiêm trọng về liêm chính khoa học.

Vì vậy, cơ chế giám sát và chế tài nên được thiết kế theo hướng phân tầng. Đối với các sai sót mang tính học thuật hoặc kỹ thuật, cần ưu tiên cơ chế khắc phục, minh bạch và cải chính, thay vì xử phạt nặng. Còn đối với những vi phạm có chủ đích, cần áp dụng chế tài đủ mạnh như thu hồi kinh phí, không công nhận kết quả nghiên cứu, hạ bậc hoặc đình chỉ nhóm nghiên cứu, thậm chí ảnh hưởng đến chức danh khoa học.

Bên cạnh đó, cơ chế giám sát cần mang tính phòng ngừa hơn là xử lý. Điều này bao gồm việc xây dựng hệ thống kiểm soát đạo văn, chuẩn hóa quy trình công bố, minh bạch dữ liệu nghiên cứu, và đặc biệt là nâng cao nhận thức về đạo đức khoa học cho giảng viên, nghiên cứu viên và nghiên cứu sinh.

Cuối cùng, trách nhiệm giải trình không chỉ dừng ở cá nhân mà cần mở rộng đến tổ chức chủ trì và nhóm nghiên cứu, trong đó trưởng nhóm đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát chất lượng, đảm bảo liêm chính học thuật.

Mạnh Dũng