Lịch sử được “đánh thức” bằng việc triển khai tích hợp STEM trong dạy và học

28/04/2026 06:43
Trần Trang

GDVN -Từ làm gốm, dệt vải đến dựng mô hình nhà cổ, STEM đang giúp môn Lịch sử trở nên gần gũi, trực quan hơn.

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, giáo viên luôn trăn trở phương pháp tiếp cận mới để môn Lịch sử trở nên hấp dẫn hơn đối với học sinh, sinh viên, thay vì học thuộc và ghi nhớ.

Việc tích hợp STEM vào giảng dạy môn Lịch sử đã mở ra một hướng đi nhiều triển vọng, khi các tiết học không còn đơn thuần là truyền đạt kiến thức mà trở thành những trải nghiệm khám phá. Nhờ đó, những số liệu tưởng chừng khô cứng được “làm sống lại” thông qua mô hình, công nghệ và các hoạt động tương tác, góp phần khơi gợi hứng thú học tập và giúp người học tiếp cận Lịch sử một cách sinh động, sâu sắc hơn.

STEM thổi làn gió mới vào những tiết học Lịch sử

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Nguyệt Linh - Trưởng phòng, Phòng Khoa học và Hợp tác phát triển của Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) - người có nhiều năm nghiên cứu Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử trong nhà trường phổ thông cho hay, STEM không chỉ là sự tích hợp của các lĩnh vực khoa học tự nhiên mà còn là một cách tiếp cận giáo dục nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề, tư duy hệ thống và sáng tạo cho người học.

Khi vận dụng vào môn Lịch sử, STEM cần được hiểu theo hướng mở rộng, kết nối liên ngành, đặc biệt là giữa Lịch sử với Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học trong bối cảnh cụ thể. Việc tích hợp STEM vào dạy học Lịch sử có thể được thực hiện thông qua các mô hình dạy học dự án (project-based learning), dạy học theo vấn đề (problem-based learning) hoặc dạy học trải nghiệm.

z7730106545558-23cb16516a5b29d630b332f179e9efc7.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Nguyệt Linh. Ảnh: NVCC.

Theo cô Linh, các tiết học tích hợp STEM trong môn Lịch sử tạo ra sự chuyển biến căn bản từ cách dạy học truyền thống sang tiếp cận phát triển năng lực.

Trước hết, từ “truyền thụ kiến thức” sang “tổ chức hoạt động học tập”. Giáo viên không còn là người cung cấp thông tin một chiều mà trở thành người thiết kế, hướng dẫn và hỗ trợ học sinh khám phá tri thức.

Thứ hai, từ học thụ động sang học chủ động. Học sinh không chỉ ghi nhớ sự kiện, mà phải tìm kiếm thông tin, xử lý dữ liệu, hợp tác nhóm và trình bày kết quả. Quá trình này giúp hình thành tư duy phản biện và khả năng tự học.

Thứ ba, từ nội dung khép kín sang liên ngành, mở rộng: Lịch sử không còn là những “mốc thời gian” rời rạc mà được đặt trong mối liên hệ với khoa học, công nghệ, môi trường và đời sống xã hội.

Cuối cùng, từ đánh giá ghi nhớ sang đánh giá năng lực. Các sản phẩm học tập như mô hình, báo cáo dự án, bài thuyết trình… trở thành minh chứng cho sự hiểu biết sâu sắc và khả năng vận dụng của học sinh.

Như vậy, STEM không chỉ làm mới phương pháp mà còn góp phần thay đổi triết lý dạy học Lịch sử theo hướng hiện đại và hội nhập.

Cùng bàn luận về chủ đề này, Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng - Trưởng khoa, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 chia sẻ: “Khi nhắc đến STEM, nhiều người vẫn mặc định đó là "sân chơi" độc quyền của các môn khoa học tự nhiên. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của những người làm giáo dục Lịch sử tại khoa, việc tích hợp STEM - hay rộng hơn là STEAM khi thêm yếu tố Nghệ thuật - chính là trao cho học sinh lăng kính khoa học và kỹ thuật để giải mã, làm sống động di sản quá khứ.

Yếu tố Khoa học (Science) được dùng để phân tích đặc tính vật liệu cổ hay lý giải các hiện tượng tự nhiên trong các trận đánh lịch sử. Công nghệ (Technology) hỗ trợ tạo ra các không gian thực tế ảo hay bản đồ số. Kỹ thuật (Engineering) giúp các em phục dựng mô hình kiến trúc, công cụ lao động, trong khi Toán học (Mathematics) lại vô cùng cần thiết để đo đạc tỷ lệ, phân tích hoa văn hay xử lý số liệu thống kê”.

anh-thay-dung-cut.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng - Trưởng khoa, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Ảnh: NVCC.

Theo thầy Dũng, triết lý này không chỉ nằm trên giấy mà đã được chuyển hóa thành những dự án thực tiễn, nơi các bạn sinh viên, những thầy cô giáo tương lai phải tự tay trải nghiệm để biết cách tổ chức lớp học sau này.

Thầy dẫn chứng: “Ở dự án Dấu ấn Lạc Hồng nhằm tái hiện nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc, các em không chỉ diễn kịch mà đã thực sự áp dụng STEM để phục dựng đời sống cổ đại. Sinh viên phải tìm hiểu nguyên lý Khoa học và Kỹ thuật để tự tay rèn sắt, dệt vải, nặn gốm. Đặc biệt, khi thiết kế trang phục mô phỏng thời Hùng Vương, các em vận dụng Toán học để đo đạc, tái tạo các họa tiết hình học trên mặt trống đồng Đông Sơn, qua đó đưa hoa văn cổ vào đời thực một cách sinh động và logic.

Tinh thần học qua trải nghiệm cũng thể hiện rõ trong dự án Hồn quê đất Việt, khi lớp học được biến thành những “xưởng chế tác” làng nghề. Sinh viên làm nón lá làng Chuông, nặn gốm Bát Tràng, đồng thời vận dụng Toán học để chia tỷ lệ, kiến thức Kỹ thuật để tạo khung và hiểu Khoa học vật liệu khi pha màu tranh Đông Hồ từ nguyên liệu tự nhiên.

Gần đây, tháng 3/2026, sinh viên tiếp tục gây ấn tượng với triển lãm Muôn sắc chung nguồn, biến sân trường thành bản đồ văn hóa của 54 dân tộc. Yếu tố STEM thể hiện rõ khi sinh viên tự tính toán, thiết kế và phục dựng các công trình như nhà trình tường của người Hà Nhì hay nhà của người Cơ Tu, đòi hỏi áp dụng Toán học và Kỹ thuật để đảm bảo tỷ lệ chính xác và kết cấu vững chắc”.

anh-2-sinh-vien-k48-khoa-lich-su-hoc-qua-du-an-dau-an-lac-hong.jpg
Sinh viên K48 Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 học qua dự án Dấu ấn Lạc Hồng. Ảnh: NVCC.
anh-5-du-an-muon-sac-chung-nguon-cua-sinh-vien-k50-khoa-lich-su.jpg
Dự án Muôn sắc chung nguồn của sinh viên K50 Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Ảnh: NVCC.

Nhiều năm nỗ lực đưa môn Lịch sử gần gũi hơn với học sinh, thầy Phùng Chí Tân - giáo viên môn Lịch sử và Địa lí, Trường Trung học cơ sở Vân Canh (Hà Nội) khẳng định, việc tích hợp STEM vào dạy học Lịch sử đã trở thành một hoạt động giáo dục sinh động, giúp di sản địa phương sống lại trong tư duy của học sinh nhà trường.

Các em được trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng mô hình các di tích tiêu biểu như chùa Đại Bi, đình Hậu Ái, hay nhà lưu niệm Bác Hồ, đồng thời rèn luyện sự khéo léo qua việc làm đèn ông sao, ông tiến sĩ. Việc kết hợp giữa kỹ thuật dựng mô hình, thiết kế tập san và sử dụng công nghệ 3D để quan sát các bảo vật như Cửu đỉnh hay tượng Phật chùa Bút Tháp đã biến những bài học vốn trừu tượng trở nên trực quan và đầy cảm hứng.

“Thay vì chỉ nghe giảng và học thuộc lòng các mốc thời gian khô khan, học sinh được đóng vai những "nhà khoa học" để giải quyết các vấn đề lịch sử thông qua việc chế tạo mô hình, ứng dụng công nghệ và phân tích dữ liệu” - thầy Tân bày tỏ.

collage-5432.jpg
Thầy Phùng Chí Tân - giáo viên môn Lịch sử và Địa lí giới thiệu các mô hình, đặc san do học sinh Trường Trung học cơ sở Vân Canh (Hà Nội) thực hiện. Ảnh: NVCC.

Nhiều rào cản khiến giáo viên khó tiếp cận với STEM

Dù mang lại nhiều lợi ích, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đoàn Nguyệt Linh cho biết, việc triển khai STEM trong dạy học Lịch sử hiện nay vẫn còn gặp một số khó khăn. Đáng chú ý là hạn chế về nhận thức và năng lực tích hợp. Một bộ phận giáo viên vẫn hiểu STEM theo nghĩa hẹp, thiên về khoa học tự nhiên. Vì vậy, họ gặp lúng túng khi áp dụng vào môn Lịch sử.

Các tài liệu, học liệu STEM dành riêng cho môn Lịch sử còn chưa phong phú. Điều này khiến giáo viên phải tự mày mò thiết kế. Áp lực chương trình và thời lượng cũng là một trở ngại. Nội dung chương trình khá dày, trong khi thời gian trên lớp hạn chế. Do đó, khó tổ chức các hoạt động dự án dài hơi.

Ngoài ra, điều kiện cơ sở vật chất ở nhiều trường chưa đáp ứng yêu cầu. Thiết bị công nghệ và không gian học tập còn thiếu. Một khó khăn khác là việc đánh giá học sinh. Việc xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực trong các hoạt động STEM vẫn chưa thống nhất.

Để khắc phục, cô Linh cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết là bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. Việc này cần theo hướng phát triển năng lực thiết kế bài học tích hợp, đặc biệt là tư duy liên ngành. Cùng với đó, cần xây dựng và chia sẻ học liệu STEM cho môn Lịch sử. Học liệu bao gồm các chủ đề mẫu, ngân hàng dự án và tài nguyên số.

Một giải pháp quan trọng khác là điều chỉnh chương trình và kế hoạch dạy học. Cần thực hiện theo hướng linh hoạt, cho phép tích hợp, đồng thời, giảm tải những nội dung mang tính ghi nhớ máy móc. Ngoài ra, cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ. Song song với đó là khuyến khích sử dụng các công cụ miễn phí, dễ tiếp cận. Bên cạnh đó, cần đổi mới kiểm tra và đánh giá. Cần xây dựng rubric rõ ràng cho sản phẩm học tập và quá trình tham gia của học sinh.

Quan trọng hơn, cần có sự thay đổi từ nhận thức. STEM trong Lịch sử không phải là “làm thêm”. Đây là một con đường để nâng cao chất lượng dạy học.

collage.jpg
Giờ học mô phỏng dạy học trải nghiệm cho sinh viên ngành Sư phạm Lịch Sử tại Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: NVCC.

Thầy Tân cho rằng, tâm lý coi Lịch sử là môn học thuộc lòng thuần túy, cùng với đó là sự hạn chế về kỹ năng công nghệ, thiếu hụt cơ sở vật chất và áp lực thời gian từ chương trình thi cử nặng về lý thuyết.

Để giải quyết vấn đề này, giáo viên cần chủ động thay đổi tư duy, chuyển từ việc truyền thụ kiến thức sang xây dựng các dự án thực tế như tái hiện di sản bằng vật liệu tái chế hoặc sử dụng các phần mềm miễn phí để xây dựng bản đồ số.

Sự phối hợp liên môn giữa giáo viên Lịch sử với các giáo viên môn khoa học tự nhiên sẽ giúp giảm bớt gánh nặng chuyên môn, đồng thời việc nhà trường linh hoạt thay đổi hình thức đánh giá từ bài kiểm tra giấy sang các sản phẩm dự án sẽ tạo động lực lớn cho học sinh.

z7743834064199-230538bda3092e8b0b4c5ed8c666e9b5.jpg
Học sinh thuyết trình về các di tích lịch sử, di sản văn hóa địa phương. Ảnh: NVCC.

Thầy Dũng cũng nhận định, khó khăn lớn nhất và đầu tiên chính là rào cản tâm lý và giới hạn về chuyên môn liên môn. Phần lớn giáo viên Lịch sử được đào tạo chuyên sâu về khoa học xã hội và nhân văn, nên khi nhắc đến STEM - những yếu tố thuộc về khoa học tự nhiên, kỹ thuật hay toán học - nhiều thầy cô mang tâm lý e ngại.

“Áp lực về thời lượng và không gian học tập cũng rất rõ. Một tiết học 45 phút thường chỉ đủ truyền tải kiến thức cơ bản, khó triển khai các hoạt động. Ngoài ra, sự thiếu hụt cơ sở vật chất, kinh phí cho vật liệu thực hành, cùng với lúng túng trong kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực qua dự án, thay vì thi tự luận hay trắc nghiệm, cũng là những điểm nghẽn khiến nhiều giáo viên còn ngần ngại” - thầy Dũng chỉ ra.

Để tháo gỡ những nút thắt này và đưa STEM vào Lịch sử hiệu quả, thầy Dũng cho rằng giải pháp căn cơ nhất phải bắt đầu từ khâu đào tạo giáo viên. Việc tổ chức dạy học dự án và tích hợp STEM được đưa thành yêu cầu bắt buộc trong chương trình, buộc sinh viên sư phạm phải trực tiếp trải nghiệm và tự tháo gỡ khó khăn trước khi đứng lớp.

Giải pháp thứ hai là thúc đẩy hợp tác liên môn trong trường phổ thông. Giáo viên Lịch sử không cần trở thành chuyên gia Vật lý hay Toán học. Thay vào đó, có thể phối hợp với giáo viên các môn tự nhiên để cùng xây dựng các dự án liên môn, mỗi người đóng góp thế mạnh chuyên môn để hướng dẫn học sinh.

Cuối cùng, để STEM thực sự đi vào nhà trường, cần cơ chế linh hoạt hơn về thời khóa biểu. Nhà trường nên cho phép ghép tiết thành các buổi học trải nghiệm theo chủ đề. Đồng thời, cần đổi mới đánh giá, chú trọng quá trình và sản phẩm thực tế thay vì chỉ dựa vào bài kiểm tra trên giấy. Khi có sự đồng bộ từ tư duy, đào tạo đến cơ chế vận hành, những giờ học Lịch sử tích hợp STEM sẽ không còn là mô hình đơn lẻ, mà trở thành hoạt động thường xuyên trong nhà trường.

Trần Trang