Siết tuyển sinh, điều chỉnh hệ số giảng viên: Bước ngoặt quan trọng đối với giáo dục đại học

03/05/2026 06:24
Thúy Hiền

GDVN - Thông tư 34 được đánh giá là bước ngoặt quan trọng trong việc siết chặt tuyển sinh, đồng thời mở ra cơ chế tự chủ có kiểm soát cho các CSGDĐH.

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 34/2026/TT-BGDĐT (sau đây gọi là Thông tư 34) quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh trình độ cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non.

Thông tư quy định nguyên tắc xác định và thực hiện số lượng tuyển sinh là cơ sở đào tạo thực hiện tuyển sinh tương ứng với số lượng tuyển sinh đã công bố. Trong đó, “số thực tuyển” cho tất cả các đợt tuyển sinh trong năm phải bảo đảm các yêu cầu cụ thể.

Đối với trình độ đại học, nếu số lượng tuyển sinh đã công bố dưới 100, số thực tuyển không được vượt quá 10% và số lượng vượt từ 5 trở lên.

Nếu số lượng tuyển sinh đã công bố từ 100 trở lên, mức vượt không quá 5% và số lượng vượt từ 30 trở lên; đồng thời tổng quy mô tuyển sinh theo từng hình thức và phương thức tổ chức đào tạo không vượt quá 5% tổng số lượng tuyển sinh đã công bố theo hình thức và phương thức tương ứng.

Theo ý kiến của một số cán bộ tuyển sinh và đào tạo tại các trường đại học, Thông tư mới không chỉ khắc phục những bất cập của quy định trước đây mà còn đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc siết chặt kỷ cương tuyển sinh.

“Siết” tuyển sinh, mở cơ chế tự chủ có kiểm soát

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tô Văn Phương - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Nha Trang cho biết, Thông tư 34 là một bước ngoặt quan trọng trong việc siết chặt tuyển sinh, đồng thời mở ra cơ chế tự chủ có kiểm soát cho các cơ sở đào tạo.

“Không chỉ dừng lại ở việc khắc phục những bất cập của quy định cũ, Thông tư còn thay đổi cách tiếp cận trong quản lý quy mô đào tạo khi áp mức không được vượt đối với tổng chỉ tiêu theo khối ngành ở bậc đại học hay theo ngành ở sau đại học. Quy định mới cho phép các cơ sở giáo dục chủ động hơn trong việc xác định chỉ tiêu dựa trên năng lực đào tạo và dữ liệu tuyển sinh thực tế, qua đó tạo dư địa linh hoạt nhưng vẫn nằm trong khung kiểm soát của cơ quan quản lý.

Trong bối cảnh đó, nhiều cơ sở đào tạo đang khẩn trương rà soát lại phương án xác định chỉ tiêu tuyển sinh để đảm bảo vừa tuân thủ quy định, vừa phù hợp với thực tiễn. Việc phân tích xu hướng tuyển sinh theo từng ngành, nhóm ngành, đặc biệt dựa trên tỷ lệ nhập học của các năm gần đây trở thành căn cứ quan trọng để đưa ra mức chỉ tiêu hợp lý. Bài toán đặt ra là phải cân đối sao cho hạn chế tối đa thí sinh ảo, tránh tình trạng thiếu hụt so với kế hoạch nhưng đồng thời cũng không vượt quá ngưỡng cho phép theo quy định mới.

Tuy nhiên, chính sự “mở” này cũng kéo theo yêu cầu cao hơn về năng lực dự báo và tổ chức tuyển sinh. Với các cơ sở giáo dục đại học như Trường Đại học Nha Trang, việc vận hành hiệu quả quy trình lọc ảo, xây dựng kịch bản xét tuyển và kiểm soát số lượng trúng tuyển sẽ trở thành thách thức không nhỏ.

Nếu không tính toán kỹ lưỡng, nguy cơ “vỡ trận” về chỉ tiêu hoàn toàn có thể xảy ra. Do đó, bên cạnh cơ hội gia tăng quyền tự chủ, Thông tư cũng đặt ra áp lực buộc các trường phải chuyên nghiệp hóa hơn trong công tác tuyển sinh, từ phân tích dữ liệu đến điều hành thực tế”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tô Văn Phương cho hay.

pgs-ts-to-van-phuong.png
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tô Văn Phương - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Nha Trang. Ảnh: NVCC.

Còn theo Thạc sĩ Đàm Minh Anh - Phó Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, quy định mới về số lượng thực tuyển mang ý nghĩa thực tiễn rõ nét, vừa tạo dư địa linh hoạt cho các cơ sở đào tạo trong tổ chức xét tuyển, vừa bảo đảm cơ chế kiểm soát chất lượng. Theo đó, quy định này tác động trực tiếp đến cả việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh lẫn số lượng thí sinh được gọi trúng tuyển.

“Ở khâu xác định chỉ tiêu, các cơ sở đào tạo có thể chủ động hơn khi căn cứ vào năng lực đội ngũ, điều kiện cơ sở vật chất, nhu cầu xã hội cũng như các tiêu chí đảm bảo chất lượng để xây dựng quy mô tuyển sinh phù hợp với từng ngành, từng giai đoạn. Không còn bị ràng buộc bởi những giới hạn cứng, các trường có điều kiện linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu theo thực tiễn, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đào tạo. Đồng thời, trong việc xác định số lượng gọi trúng tuyển, quy định mới cũng cung cấp thêm cơ sở dữ liệu và “dư địa” tính toán để các trường xây dựng phương án hợp lý hơn, góp phần giảm thiểu tình trạng thí sinh ảo và hạn chế rủi ro nhập học vượt chỉ tiêu ngoài mong muốn.

Nhìn tổng thể, quy định mới tạo thuận lợi cho các cơ sở giáo dục đại học trong việc xây dựng và triển khai phương án tuyển sinh một cách chủ động, bài bản hơn; đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình gắn với chất lượng đào tạo và kết quả đầu ra.

Tuy vậy, yếu tố rủi ro vẫn hiện hữu khi tỷ lệ nhập học chịu ảnh hưởng lớn từ biến động nguyện vọng và tâm lý lựa chọn của thí sinh qua từng năm. Điều này đòi hỏi các trường không chỉ theo dõi sát diễn biến tuyển sinh mà còn phải chuẩn bị nhiều kịch bản linh hoạt, từ điều chỉnh mức gọi trúng tuyển đến tối ưu quy trình lọc ảo, nhằm đảm bảo vừa tuân thủ quy định, vừa giữ ổn định quy mô và chất lượng đào tạo”, Thạc sĩ Đàm Minh Anh nhận định.

Ngoài ra, theo Thông tư 34, riêng các ngành đào tạo giáo viên, số thực tuyển không vượt quá 20% số lượng tuyển sinh được Bộ Giáo dục và Đào tạo thông báo cho từng ngành và phải bảo đảm tổng quy mô tuyển sinh các ngành đào tạo giáo viên nằm trong tổng số lượng đã được thông báo.

Theo Thạc sĩ Đàm Minh Anh, quy định này thể hiện bước điều chỉnh theo hướng chặt chẽ và ổn định hơn trong quản lý tuyển sinh sư phạm. Trước đây, sau đợt nhập học đầu tiên, các cơ sở đào tạo phải báo cáo để Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét điều chỉnh chỉ tiêu từng ngành trong biên độ tối đa 20%. Nay, với quy định mới được cụ thể hóa trong Thông tư, các trường có thể chủ động xây dựng phương án xét tuyển từ đầu, giảm áp lực điều chỉnh sau tuyển sinh, đồng thời nâng cao trách nhiệm trong việc xác định quy mô phù hợp với năng lực đào tạo.

Về tổng thể, cách tiếp cận này không chỉ góp phần đơn giản hóa quy trình quản lý mà còn hướng tới sự ổn định của hệ thống đào tạo giáo viên, hạn chế tình trạng biến động chỉ tiêu sau mỗi mùa tuyển sinh, qua đó bảo đảm tốt hơn chất lượng và cân đối nguồn nhân lực sư phạm.

Điều chỉnh hệ số giảng viên thúc đẩy tái cấu trúc và nâng cao chất lượng đào tạo

Khoản 3, Điều 5 Thông tư số 34/2026/TT-BGDĐT quy định về hệ số quy đổi của giảng viên có chức danh, trình độ khác nhau trong xác định số lượng tuyển sinh được quy định:

Hệ số quy đổi của giảng viên có trình độ đại học của các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục khác có hoạt động giáo dục đại học là 0,50; các cơ sở đào tạo cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non là 0,75;

Hệ số quy đổi của giảng viên có trình độ thạc sĩ của các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục khác có hoạt động giáo dục đại học là 0,75; các cơ sở đào tạo cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non là 1,00;

Hệ số quy đổi của giảng viên có trình độ tiến sĩ hoặc có chức danh phó giáo sư hoặc giáo sư của các cơ sở đào tạo là 1,00.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tô Văn Phương, việc điều chỉnh hệ số quy đổi giảng viên, trong đó giảm hệ số đối với giảng viên có trình độ thạc sĩ của các cơ sở giáo dục đại học từ 1,0 (tại Thông tư số 03/2022/TT-BGDĐT) xuống còn 0,75 theo lộ trình áp dụng từ năm 2027 đang đặt ra yêu cầu tái cấu trúc mạnh mẽ đối với các trường đại học. Khoảng thời gian chuyển tiếp này là cơ sở quan trọng để các trường chủ động chuẩn bị, tái cấu trúc đội ngũ và xây dựng chiến lược phát triển phù hợp.

Trong bối cảnh hiện nay, áp lực lớn nhất đặt ra là bài toán cân đối giữa quy mô tuyển sinh và năng lực đội ngũ. Điều này buộc các cơ sở đào tạo phải có những chính sách quyết liệt hơn trong phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, đặc biệt là đội ngũ tiến sĩ. Không chỉ dừng ở khuyến khích, các trường có thể cần thiết kế cơ chế đủ mạnh từ hỗ trợ tài chính, tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ, đến các chính sách vượt trội thu hút nhân lực chất lượng cao từ bên ngoài. Thậm chí, trong một số trường hợp, cần có ràng buộc trách nhiệm nhằm thúc đẩy giảng viên chủ động nâng cao trình độ.

Về dài hạn, sự điều chỉnh này không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu về quy mô tuyển sinh mà còn góp phần hướng tới việc đạt chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để các trường rà soát, định hình lại chiến lược phát triển theo hướng cân bằng hơn giữa mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng. Việc cơ cấu lại ngành, chương trình đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn và năng lực đội ngũ sẽ trở thành yêu cầu tất yếu trong giai đoạn tới.

ths-dam-minh-anh.png
Thạc sĩ Đàm Minh Anh - Phó Trưởng phòng Phòng Đào tạo Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng. Ảnh: NVCC.

Bàn về vấn đề này, Thạc sĩ Đàm Minh Anh cho rằng, đây là một trong những điểm mới có ý nghĩa tích cực trong bối cảnh mới của giáo dục. Tuy nhiên, việc điều chỉnh này trong ngắn hạn có tác động lớn tới việc xác định chỉ tiêu của các trường. Nếu áp dụng theo quy định mới, quy mô tuyển sinh có thể giảm mạnh, thậm chí ở mức 30-50%, đặc biệt đối với những cơ sở có tỷ lệ giảng viên trình độ thạc sĩ còn chiếm ưu thế. Trong khi đó, bài toán phát triển đội ngũ tiến sĩ không thể giải quyết trong “một sớm một chiều”, nhất là ở những ngành đặc thù còn hạn chế về nguồn đào tạo.

Từ thực tế này, thầy Minh Anh đề xuất cần có lộ trình triển khai đủ dài, tối thiểu khoảng 5 năm, đồng thời xem xét áp dụng theo hướng phân nhóm ngành. Theo đó, có thể ưu tiên triển khai trước ở các lĩnh vực mũi nhọn, có điều kiện phát triển đội ngũ, sau đó mở rộng áp dụng trên toàn hệ thống nhằm bảo đảm tính khả thi và ổn định trong quá trình thực hiện.

Tương tự, quy định về hệ số quy đổi theo trình độ, trong đó tỷ lệ tối đa 40 người học quy đổi trên giảng viên quy đổi cho từng ngành, nhóm ngành cũng sẽ tác động mạnh đến việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là những trường có quy mô đào tạo lớn và phát triển đồng đều ở nhiều trình độ. Trong ngắn hạn, nhiều trường có thể buộc phải điều chỉnh giảm chỉ tiêu để đáp ứng ngưỡng quy định, trong khi việc bổ sung và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lại cần thời gian. Điều này đặt ra áp lực không nhỏ trong việc cân đối giữa quy mô đào tạo, cơ cấu ngành và các điều kiện bảo đảm chất lượng.

Từ thực tế đó, cần có lộ trình triển khai phù hợp ở tầm hệ thống, đồng thời xem xét cơ chế linh hoạt đối với một số ngành đặc thù. Cách tiếp cận này sẽ giúp các cơ sở đào tạo có thêm thời gian thích ứng, vừa đảm bảo tuân thủ quy định, vừa duy trì sự ổn định trong hoạt động tuyển sinh và đào tạo trong giai đoạn chuyển tiếp.

Thúy Hiền