Trường đại học đề xuất cơ chế xác định học phí tính theo chi phí đào tạo thực tế

07/05/2026 06:22
Trang Hiền

GDVN -Bên cạnh điều chỉnh học phí, việc mở rộng và đa dạng hóa các chính sách hỗ trợ người học là cần thiết nhằm giảm áp lực tài chính.

Thực hiện Nghị quyết số 281/2025/NQ-CP ngày 15/9/2025 của Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 238/2025/NĐ-CP, quy định về chính sách học phí, cơ chế miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Theo các cơ sở giáo dục đại học, Nghị định 238/2025/NĐ-CP cơ bản phù hợp với định hướng tự chủ đại học, tuy nhiên trong bối cảnh kinh tế và thu nhập người dân có hiệu chỉnh khung học phí giúp các trường chủ động xây dựng mức thu học phí sát với chi phí thực tế.

Cần điều chỉnh và hoàn thiện chính sách học phí theo hướng linh hoạt hơn, sát với thực tiễn hơn

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Thái Doãn Thanh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, Nghị định 238/2025/NĐ-CP đã thay thế Nghị định 81/2021/NĐ-CP và Nghị định 97/2023/NĐ-CP, quy định rõ khung học phí (mức trần) đối với cơ sở giáo dục đại học công lập theo mức độ tự chủ tài chính và theo khối ngành. Đối với trường công lập chưa tự đảm bảo chi thường xuyên, mức trần học phí năm 2025-2026 và 2026-2027 dao động khoảng 1,52 - 1,79 triệu đồng/sinh viên/tháng tùy khối ngành (thấp nhất khối nghệ thuật, cao hơn với khối kinh tế - quản lý, kỹ thuật...).

Đối với các trường tự chủ như Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh, mức học phí được phép cao hơn tối đa 2,5 lần đối với trường tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư. Học phí tính theo tín chỉ phải đảm bảo tổng thu toàn khóa không vượt tổng học phí theo mức trần tương ứng.

Cũng theo thầy Thanh, về lộ trình, Nghị định 238 đã giữ ổn định cơ chế, cho phép các trường điều chỉnh học phí hàng năm nhưng không vượt mức trần quy định, đồng thời gắn với lộ trình tính đủ chi phí đào tạo và bảo đảm chất lượng. Nghị định cũng bổ sung chính sách miễn, giảm, hỗ trợ học phí rõ ràng hơn cho một số đối tượng.

Hiện tại, mức học phí của Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay áp dụng theo quyết định ban hành mức thu học phí năm học 2025-2026. Hiện tại khóa tuyển sinh năm 2026 có học phí là 934.000 đồng với 01 tín chỉ lý thuyết, 1.200.000 đồng với tín chỉ thực hành và đảm bảo không tăng mức thu trong toàn khóa học. Học phí hiện đáp ứng 100% cho chi phí đào tạo thực tế cho mỗi sinh viên.

Hiện tổng thu học phí đang chiếm 163% trong tổng chi thường xuyên của đơn vị. Tỷ lệ trên 100% là minh chứng rõ ràng cho việc trường đã hoàn toàn tự chủ về tài chính trong chi thường xuyên và có khả năng phát triển bền vững. Điều này phản ánh trường có mức tự chủ tài chính, thuộc nhóm 1 (tự bảo đảm chi thường xuyên và đầu tư). Đồng thời, nhà trường có khả năng tích lũy và chủ động tái đầu tư, nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo.

“Khung học phí và lộ trình của Nghị định 238/2025/NĐ-CP cơ bản phù hợp với định hướng tự chủ đại học, tạo hành lang pháp lý minh bạch, giúp các trường công lập tự chủ như nhà trường chủ động xây dựng mức thu học phí sát với chi phí thực tế, đảm bảo cân đối tài chính và nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế và thu nhập người dân, cần tiếp tục theo dõi để có cơ chế hỗ trợ sinh viên khó khăn kịp thời hơn”, Tiến sĩ Thái Doãn Thanh chia sẻ.

Sinh viên Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh.
Sinh viên Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh.

Cùng bàn về vấn đề này, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Hồng Hải - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, Nghị định 238/2025/NĐ-CP đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối rõ ràng, tạo hành lang pháp lý đầy đủ để thực hiện chính sách học phí. Đồng thời Nghị định 238 cũng tạo sự minh bạch và tiệm cận hơn với cơ chế thị trường trong việc xác định mức thu học phí đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập.

Việc quy định khung học phí theo lộ trình, cho phép các trường điều chỉnh học phí hàng năm nhưng không vượt mức trần quy định ,đồng thời gắn với mức độ tự chủ của từng cơ sở đào tạo là phù hợp. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của các trường mà còn tạo động lực thúc đẩy các cơ sở giáo dục chủ động cải thiện chất lượng đào tạo, đa dạng hóa nguồn thu và tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực sẵn có.

Tuy nhiên, trong bối cảnh chi phí đào tạo đại học ngày càng gia tăng, đặc biệt ở các lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn như kỹ thuật, công nghệ cao, y dược hay khoa học ứng dụng, thì mức trần học phí theo quy định hiện hành vẫn còn tồn tại khoảng cách nhất định so với chi phí đào tạo thực tế. Khoảng cách này khiến nhiều cơ sở đào tạo gặp khó khăn trong việc cân đối tài chính, hạn chế khả năng tái đầu tư, nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển bền vững của các trường đại học trong dài hạn.

Vì vậy, theo thầy Hải, trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh và hoàn thiện chính sách học phí theo hướng linh hoạt hơn, sát với thực tiễn hơn. Điều này nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và khả năng chi trả của người học. Qua đó góp phần xây dựng một hệ thống giáo dục đại học phát triển ổn định, công bằng và hiệu quả.

Cần hoàn thiện cơ chế xác định học phí theo chi phí đào tạo thực tế

Theo Tiến sĩ Doãn Thái Thanh, việc triển khai Nghị định 238/2025/NĐ-CP vẫn còn một số vướng mắc tập trung chủ yếu ở cơ chế khung và lộ trình học phí trong bối cảnh tự chủ tài chính của nhà trường.

Theo đó, khung trần học phí hiện hành vẫn hạn chế một phần quyền tự chủ tài chính của các cơ sở đào tạo. Cụ thể, mức trần còn thấp so với chi phí đào tạo thực tế và nhu cầu đầu tư cho chất lượng cao, đặc biệt đối với các ngành kỹ thuật, công nghệ. Đồng thời, việc phải tuân thủ nghiêm ngặt mức trần và tốc độ tăng không vượt CPI làm giảm tính linh hoạt, gây khó khăn trong việc thu hút nguồn lực đầu tư cũng như giữ chân giảng viên giỏi. Bên cạnh đó, ngoại trừ các chương trình đã được kiểm định chất lượng cao (được tự quyết định mức học phí theo định mức chi phí), phần lớn các chương trình đào tạo vẫn bị ràng buộc bởi khung trần chung.

Vì vậy, thầy Thanh đề xuất, trên cơ sở thực tiễn triển khai Nghị định 238/2025/NĐ-CP và yêu cầu đổi mới cơ chế tự chủ đại học, việc điều chỉnh chính sách học phí cần được đặt trong một cách tiếp cận tổng thể, đồng bộ, hướng tới nâng cao hiệu quả vận hành của hệ thống giáo dục đại học.

Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế xác định học phí theo chi phí đào tạo thực tế. Theo đó, việc xây dựng mức học phí cần dựa trên đầy đủ các cấu phần chi phí như nhân sự, cơ sở vật chất, trang thiết bị, chuyển đổi số và kiểm định chất lượng.

Đồng thời, các cơ sở đào tạo cần được trao quyền chủ động xác định mức học phí trong một biên độ phù hợp với mức độ tự chủ và đặc thù đào tạo. Khung học phí cũng cần được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn, giảm tính cứng nhắc, qua đó tăng khả năng thích ứng với những biến động của chi phí trong thực tiễn.

Cùng với đó, việc phân nhóm ngành đào tạo cần được thiết kế chi tiết và sát với thực tế hơn thay vì cách phân nhóm còn tương đối rộng như hiện nay.

Có thể xem xét chia thành các nhóm theo mức chi phí đào tạo, bao gồm nhóm chi phí thấp đối với các ngành mang tính lý thuyết, ít yêu cầu thực hành và thiết bị; nhóm chi phí trung bình đối với các ngành có yêu cầu thực hành và kỹ năng nghề ở mức vừa; và nhóm chi phí cao đối với các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, y dược, nghệ thuật. Việc phân nhóm chi tiết không chỉ giúp học phí phản ánh sát hơn chi phí đào tạo mà còn hạn chế tình trạng cào bằng giữa các ngành, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trong toàn hệ thống.

Bên cạnh điều chỉnh học phí, việc mở rộng và đa dạng hóa các chính sách hỗ trợ người học là yêu cầu cần thiết nhằm giảm áp lực tài chính. Hệ thống học bổng cần được phát triển theo cả hai hướng: khuyến khích tài năng và hỗ trợ theo điều kiện kinh tế – xã hội. Đồng thời, cơ chế đặt hàng đào tạo cần được tăng cường từ phía Nhà nước và doanh nghiệp, đặc biệt đối với các ngành ưu tiên, qua đó gắn kết chặt chẽ hơn giữa đào tạo và nhu cầu nhân lực của thị trường.

Tất cả các điều chỉnh nêu trên cần hướng tới mục tiêu kép, vừa phản ánh đúng chi phí đào tạo và tăng cường quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học, vừa giảm áp lực học phí và bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục cho người học. Đây cũng là cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công, đồng thời cải thiện chất lượng đào tạo trong dài hạn.

“Việc điều chỉnh cơ chế xác định học phí theo hướng phân nhóm ngành chi tiết, tiệm cận chi phí thực tế, kết hợp với việc mở rộng hệ thống hỗ trợ như học bổng, tín dụng sinh viên và cơ chế đặt hàng đào tạo sẽ góp phần tăng cường tự chủ tài chính cho các trường đại học. Qua đó bảo đảm công bằng xã hội và khả năng tiếp cận giáo dục, đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo trong bối cảnh mới”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất.

Sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

Còn theo Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, để Nghị định 238/2025/NĐ-CP phát huy hiệu quả cao hơn trong thực tiễn, cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số nội dung theo hướng đồng bộ và phù hợp hơn với bối cảnh đổi mới giáo dục đại học.

Trước hết, cần xây dựng cơ chế phân chia chi phí đào tạo, trong đó có học phí, một cách hợp lý giữa ba chủ thể: Nhà nước - người học - cơ sở đào tạo. Theo đó, Nhà nước nên tập trung nguồn lực hỗ trợ đối với các nhóm đối tượng chính sách, người học có hoàn cảnh khó khăn, đồng thời ưu tiên đầu tư cho các ngành đào tạo then chốt, có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh hơn nữa cơ chế đặt hàng và giao nhiệm vụ đào tạo từ phía Nhà nước cũng như sự tham gia của doanh nghiệp, đặc biệt đối với các ngành trọng điểm, gắn đào tạo với nhu cầu nhân lực thực tế.. Điều này nhằm góp phần chia sẻ gánh nặng chi phí với các cơ sở đào tạo, đồng thời gắn kết chặt chẽ hơn giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực.

Song song với đó, cần tăng cường và đa dạng hóa các chính sách hỗ trợ người học như mở rộng tín dụng ưu đãi, phát triển hệ thống học bổng, cũng như duy trì và hoàn thiện các chính sách miễn, giảm học phí. Đối với chính sách tín dụng sinh viên, cần mở rộng quy mô triển khai, đồng thời có điều chỉnh điều kiện tiếp cận theo hướng linh hoạt hơn.

Việc xây dựng cơ chế phân chia chi phí đào tạo hợp lý giữa Nhà nước – người học – cơ sở đào tạo, đẩy mạnh cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo gắn với nhu cầu nhân lực thực tế và tăng cường các chính sách hỗ trợ như tín dụng ưu đãi, học bổng, miễn giảm học phí sẽ góp phần chia sẻ gánh nặng tài chính, nâng cao hiệu quả vận hành. Qua đó vừa tăng cường tự chủ cho các trường đại học, vừa bảo đảm công bằng xã hội và đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục.

Trang Hiền