Khoản 4, Điều 20 của Nghị định nêu, đối với nội dung chi của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đại học trích từ nguồn thu học phí, với tỷ lệ tối thiểu 8% đối với đại học và 5% đối với cơ sở giáo dục đại học khác, để phục vụ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục đại học, để đảm bảo việc trích kinh phí từ nguồn thu học phí cho các nhiệm vụ khoa học công nghệ được đầu tư hiệu quả, trường đại học cần chuyển từ phân bổ bình quân sang đầu tư có trọng tâm, trọng điểm.
Cần chuyển đổi tư duy đầu tư từ dàn trải sang tập trung có trọng điểm
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Phương - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng cho rằng, quy định trích 5-8% nguồn thu học phí cho quỹ phát triển khoa học và công nghệ là cần thiết đối với các cơ sở giáo dục đại học, bởi nếu không có nguồn lực ổn định, việc duy trì và phát triển nghiên cứu một cách bài bản sẽ gặp nhiều khó khăn.
Tuy nhiên, với các cơ sở giáo dục đại học đang thực hiện tự chủ, thách thức lớn nhất không chỉ là bố trí kinh phí, mà quan trọng hơn là sử dụng nguồn kinh phí đó sao cho hiệu quả.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Phương - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng. Ảnh website nhà trường
Thực tế cho thấy, nếu thiếu năng lực quản trị và cơ chế phân bổ hợp lý, nguồn lực rất dễ bị chia nhỏ, đầu tư dàn trải, mỗi đề tài một ít nhưng không tạo ra được sản phẩm có giá trị rõ ràng. Trong khi đó, nguồn chi của trường đại học hiện nay còn phải ưu tiên cho nhiều nhiệm vụ khác như bảo đảm chất lượng đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất và chi trả thu nhập cho giảng viên, nên việc trích một tỷ lệ cố định cũng đòi hỏi các trường phải điều chỉnh lại cách quản trị tài chính.
Vì vậy, để bảo đảm mức chi này được đầu tư đúng và trúng, trước hết cần chuyển từ phân bổ bình quân sang đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên cho các nhóm nghiên cứu có năng lực và các hướng nghiên cứu mũi nhọn của nhà trường.
Bên cạnh đó, việc cấp kinh phí phải gắn chặt với sản phẩm đầu ra, có cơ chế đánh giá định kỳ, nếu không đạt yêu cầu thì cần điều chỉnh hoặc dừng kịp thời. Đồng thời, cần phát huy vai trò của hội đồng khoa học độc lập trong lựa chọn và thẩm định nhiệm vụ nghiên cứu để bảo đảm khách quan.
Đặc biệt, nghiên cứu phải gắn với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, địa phương và thị trường, vì khi có địa chỉ ứng dụng rõ ràng thì hiệu quả đầu tư sẽ cao hơn. Ngoài ra, các trường cần thực hiện tốt trách nhiệm giải trình, công khai việc sử dụng kinh phí và đánh giá hiệu quả hằng năm, qua đó tránh dàn trải, lãng phí và nâng cao chất lượng đầu tư cho khoa học, công nghệ.
Cùng bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng đánh giá quy định trích tỷ lệ tối thiểu 5-8% nguồn thu từ học phí cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một bước đi đột phá nhằm tạo nguồn lực tài chính ổn định cho nghiên cứu.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng. Ảnh website nhà trường
Tuy nhiên, nhìn từ góc độ quản trị đại học, đây có thể là một thách thức đối với các đơn vị đang thực hiện cơ chế tự chủ, bởi hiện nay, phần lớn các trường đại học tại Việt Nam vẫn phụ thuộc chủ yếu vào nguồn thu học phí.
Do đó, việc trích một phần nguồn thu để dành riêng cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ tạo ra áp lực tài chính lên quỹ vận hành chung. Nếu không có sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hoặc các nguồn thu ngoài học phí, các trường đại học sẽ rơi vào thế khó khi vừa phải đảm bảo chất lượng đào tạo, vừa phải đáp ứng định mức chi không nhỏ cho nghiên cứu.
Đặc biệt, đối với các trường thuộc khối ngành kỹ thuật và công nghệ, đặc thù nghiên cứu đòi hỏi chi phí đầu tư lớn. Nghiên cứu khoa học không chỉ đơn thuần là bồi dưỡng cho con người mà còn gắn liền với việc xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại, mua sắm máy móc, trang thiết bị và vật tư chuyên dụng. Nếu không có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, việc nghiên cứu khó có thể mang lại kết quả thực chất.
Trước những thách thức này, giải pháp tiên quyết là chuyển đổi tư duy đầu tư từ dàn trải sang tập trung có trọng điểm. Thay vì chia nhỏ ngân sách cho quá nhiều hạng mục, các trường đại học cần coi việc đầu tư cho các nhóm nghiên cứu là đòn bẩy chiến lược.
Cụ thể, nguồn kinh phí này cần được ưu tiên hàng đầu cho các nhóm nghiên cứu mạnh và các nhóm nghiên cứu tiềm năng đã được định hình. Việc tập trung nguồn lực tài chính vào những đơn vị này không chỉ giúp các nhóm củng cố năng lực, mà còn tạo ra sự bứt phá về sản phẩm khoa học. Đồng thời, trường đại học cần gắn việc chi với đầu ra cụ thể như: công bố chất lượng, chuyển giao công nghệ, từ đó tạo đòn bẩy nâng cao chất lượng nghiên cứu.
Giảm giờ giảng cho giáo sư, phó giáo sư giúp nghiên cứu chuyên sâu có điều kiện được triển khai
Đáng chú ý, Nghị định 125 nêu rõ giáo sư có thể được giảm tới 60% giờ giảng, phó giáo sư giảm tới 40%, thậm chí được tạm dừng giảng dạy tối đa 1 năm để phục vụ nghiên cứu và hợp tác quốc tế.
Bàn về nội dung này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Đức Lung - Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho hay, việc giảm giờ giảng hoặc tạm dừng giảng dạy giúp giải quyết nút thắt thời gian, tạo điều kiện để nhà khoa học tập trung vào các đề tài dài hạn, có chiều sâu thay vì chạy theo định mức giờ dạy như trước.
Thực tế, quy định này cũng không hoàn toàn mới đối với nhiều cơ sở giáo dục đại học. Chẳng hạn tại Trường Đại học Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho phép quy đổi giờ nghiên cứu khoa học thay thế giờ giảng và ngược lại. Nghị định số 125 có ý nghĩa chuẩn hóa và thể chế hóa những thực tiễn đó ở cấp quốc gia, tạo hành lang pháp lý rõ ràng và đồng bộ hơn.
Vì vậy, hiệu quả của chính sách sẽ phụ thuộc nhiều vào cách triển khai ở từng trường. Cụ thể, các trường đại học cần có cơ chế phân tầng, phân loại giảng viên (nghiên cứu mạnh, giảng dạy trọng tâm, hay cân bằng), kế hoạch giảng dạy và nghiên cứu khoa học hợp lý và gắn việc giảm giờ giảng với các cam kết, sản phẩm nghiên cứu cụ thể. Khi đó, quy định này mới thực sự phát huy vai trò vừa thúc đẩy nghiên cứu, vừa không làm suy giảm chất lượng đào tạo.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Đức Lung - Bí thư Đảng ủy, Trường Đại học Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.
Ngoài ra, Nghị định số 125 cũng định hướng rằng Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định điều kiện, tiêu chí, quy trình công nhận, công nhận lại và không công nhận lại đối với nhóm, trưởng nhóm và thành viên chủ chốt của nhóm nghiên cứu mạnh và nhóm nghiên cứu tiềm năng. Trong đó xác định rõ các tiêu chí định lượng tối thiểu về công bố khoa học, quyền sở hữu trí tuệ và các sản phẩm khoa học khác có tính đến đặc thù của từng lĩnh vực hoặc nhóm ngành khoa học; quy định Khung quy đổi sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo thầy Lung, việc xây dựng tiêu chí định lượng cho nhóm nghiên cứu mạnh, nhóm nghiên cứu tiềm năng cần dựa trên một số nguyên tắc cốt lõi.
Thứ nhất, phân hóa theo đặc thù nhóm ngành hoặc lĩnh vực, không thể dùng cùng một chuẩn cho tất cả các khối ngành. Bởi, khối kỹ thuật – công nghệ có thể ưu tiên bài báo Scopus/WoS, bằng sáng chế, sản phẩm chuyển giao, mức độ ảnh hưởng cấp tỉnh, khu vực hay toàn quốc. Trong khi đó, khối khoa học xã hội và nhân văn cần coi trọng sách chuyên khảo, tư vấn chính sách, tác động xã hội.
Thứ hai, cần có sự cân bằng giữa số lượng và chất lượng bài báo khoa học. Việc đánh giá kết quả nghiên cứu không chỉ cần đếm số bài báo, mà cần tính đến chất lượng của bài báo khoa học Q1/Q2, trích dẫn, tránh chạy theo số lượng đơn thuần.
Thứ ba, gắn với kết quả đầu ra với phục vụ cộng đồng. Các tiêu chí về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, doanh thu từ nghiên cứu, hoặc ảnh hưởng đến chính sách, xã hội cần được đưa vào như thành phần bắt buộc tuỳ lĩnh vực.
Thứ tư, cần đánh giá hiệu quả theo nhóm thay vì cá nhân rời rạc. Cần xem xét năng lực tổng thể của nhóm (cơ cấu nhân sự, vai trò trưởng nhóm, tính liên tục), tránh tình trạng “mạnh từng cá nhân nhưng yếu về tổ chức”.
Thứ năm, linh hoạt về nhân sự và đánh giá theo lộ trình. Cần cho phép nhóm nghiên cứu được điều chỉnh, bổ sung nhân sự theo từng giai đoạn phát triển, đồng thời áp dụng cơ chế đánh giá theo lộ trình (chu kỳ 3–5 năm). Việc công nhận, công nhận lại hay không công nhận nên dựa trên tiến độ thực hiện và kết quả đạt được theo từng mốc, thay vì áp dụng tiêu chí cứng nhắc tại một thời điểm.
Còn theo thầy Nguyễn Thanh Phương, việc Nghị định số 125 cho phép giáo sư, phó giáo sư được giảm định mức giờ giảng, thậm chí tạm dừng giảng dạy có thời hạn để tập trung nghiên cứu, là một bước tiến rất quan trọng trong tư duy quản lý khoa học ở giáo dục đại học.
Trước đây, nhiều giảng viên phải dành phần lớn thời gian cho nhiệm vụ giảng dạy nên hoạt động nghiên cứu thường bị chia nhỏ, thiếu tính liên tục, khó theo đuổi các đề tài lớn, phức tạp và dài hạn. Khi được giảm giờ giảng hoặc có thời gian tập trung hoàn toàn cho nghiên cứu, các nhà khoa học sẽ có điều kiện tổ chức lại công việc hợp lý hơn, dành được những khoảng thời gian đủ dài để triển khai các hướng nghiên cứu có chiều sâu.
Điều này không chỉ giúp giáo sư, phó giáo sư yên tâm hơn khi theo đuổi các đề tài dài hơi, mà còn tạo động lực để thầy cô mạnh dạn lựa chọn những vấn đề có tính nền tảng, có giá trị học thuật và ứng dụng cao. Quan trọng hơn, chính sách này gắn với kế hoạch nghiên cứu và cam kết sản phẩm đầu ra, nên đây không phải là ưu đãi đơn thuần mà là cơ chế phân bổ lại thời gian trên cơ sở hiệu quả.
Thầy Phương cũng nhấn mạnh, điểm đáng chú ý của Nghị định số 125 là đã tiếp cận hoạt động khoa học trong trường đại học như một hệ sinh thái đồng bộ, thay vì những chính sách riêng lẻ. Khi ba yếu tố quan trọng là thời gian, nhân lực và tài chính được kết nối với nhau, các trường đại học sẽ có điều kiện hình thành môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp hơn, nơi nhà khoa học có thể theo đuổi đề tài theo hướng dài hạn, nhóm nghiên cứu có cơ hội phát triển bền vững, và nhà trường có nguồn lực để đầu tư cho các hướng nghiên cứu ưu tiên.
Cũng theo Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng, Nghị định số 125 đã đi đúng hướng khi yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học công khai chính sách hỗ trợ, tiêu chí xét chọn, cơ chế giám sát, đánh giá kết quả; đồng thời phải đánh giá định kỳ đối với những cá nhân, nhóm nghiên cứu được hưởng ưu đãi. Đây là nền tảng rất quan trọng để bảo đảm nguồn lực được sử dụng đúng mục tiêu, hiệu quả và minh bạch.
Song, khi càng có nhiều ưu đãi thì những hỗ trợ trong Nghị định cũng đặt ra những yêu cầu cao về trách nhiệm giải trình và liêm chính khoa học.
Để triển khai tốt, cần có cơ chế giám sát theo nhiều lớp. Trước hết là giám sát nội bộ ở cấp trường, trong đó các nhiệm vụ, kinh phí, tiến độ và sản phẩm cam kết cần được theo dõi, cập nhật rõ ràng. Tiếp đó là giám sát độc lập với các nhóm nghiên cứu mạnh hoặc đề tài trọng điểm, thông qua hội đồng chuyên gia bên ngoài để bảo đảm khách quan. Đồng thời, cần tăng cường hậu kiểm đối với công bố khoa học, bằng sáng chế, chuyển giao công nghệ và việc sử dụng kinh phí.
Nếu xảy ra tình trạng gỡ bài hoặc vi phạm đạo đức nghiên cứu, cần có chế tài tương xứng: từ cảnh cáo, tạm dừng ưu đãi đến thu hồi kinh phí, hạ bậc hoặc hủy công nhận nhóm nghiên cứu; trường hợp nghiêm trọng phải xử lý kỷ luật và công khai vi phạm. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là xử phạt mà là xây dựng văn hóa khoa học trung thực, minh bạch và có trách nhiệm, bởi chỉ trên nền tảng đó các chính sách ưu đãi mới phát huy đúng giá trị.