Quy định là căn cứ buộc tội cựu hiệu trưởng bị bãi bỏ: Cần rõ trách nhiệm cơ quan ban hành, tham mưu

14/05/2026 06:36
Khánh Hòa

GDVN - Việc một quy định sau đó bị kết luận chưa phù hợp pháp luật nhưng từng được dùng làm căn cứ xử lý sai phạm đang đặt ra vấn đề về trách nhiệm của cơ quan ban hành và hệ lụy pháp lý phát sinh.

Quy định tại Quyết định 22/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về dạy thêm, học thêm từng được sử dụng làm căn cứ xác định sai phạm trong vụ cựu Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Ba Đình (thành phố Hà Nội) thu tiền dạy thêm. Theo cáo trạng, bà Nguyễn Thị Bình, bị truy tố về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" và bị tòa sơ thẩm tuyên phạt 3 năm tù. Tuy nhiên, ngày 4/5/2026, Bộ Tư pháp đưa ra kết luận nêu quy định tại Quyết định 22/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành "không đúng hình thức, thẩm quyền".

Sau Quyết định 22 của Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội tiếp tục ban hành văn bản hướng dẫn với nội dung áp mức thu tối đa tương tự. Theo Bộ Tư pháp, các quy định này được ban hành "không đúng hình thức, thẩm quyền".

Thông tư 17 của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ nêu, tiền học thêm do thỏa thuận giữa cha mẹ học sinh với nhà trường, không quy định hoặc giao chính quyền địa phương quy định mức thu tiền học thêm tối đa. Vì vậy, Quyết định 22 của Hà Nội áp "giá trần" là chưa phù hợp.

Một quy định bị kết luận ban hành "không đúng hình thức, thẩm quyền" nhưng từng được dùng làm căn cứ xử lý sai phạm đã gây ra hệ lụy với người liên quan, đồng thời đặt ra vấn đề về trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản và quá trình áp dụng quy định trong thực tế.

Từ vụ việc trên, một số ý kiến cũng bày tỏ băn khoăn về Công văn số 582/SGDĐT-KHTC của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội về việc đăng ký chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027. Trong đó, Sở nhấn mạnh: "Trường tư không được yêu cầu học sinh, cha mẹ học sinh nộp tiền giữ chỗ, đặt cọc…”.

Trước chỉ đạo này của Sở, Tạp chí đã ghi nhận ý kiến từ nhà đầu tư giáo dục, lãnh đạo trường tư, chuyên gia pháp lý đều khẳng định, quy định của pháp luật không cấm trường tư thu phí giữ chỗ, đặt cọc. Có ý kiến cho rằng nội dung chỉ đạo của Sở như trên là sự can thiệp vào quyền tự chủ của các trường tư. Nhận thấy chỉ đạo này của Sở Giáo dục và Đào tạo có dấu hiệu không phù hợp quy định pháp luật, vào đầu tháng 3/2026, phóng viên Tạp chí đã gửi Giấy giới thiệu kèm câu hỏi cụ thể tới Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội Nguyễn Văn Hiền đề nghị thông tin làm rõ căn cứ pháp lý của yêu cầu này và phản hồi những ý kiến của cơ sở giáo dục tư thục. Cùng với đó, Tạp chí cũng đã gửi công văn đến lãnh đạo Thành phố. Tuy nhiên, đến nay Tạp chí chưa nhận được phản hồi.

Nhiều ý kiến đặt ra vấn đề, trong trường hợp nếu xảy ra tranh chấp giữa phụ huynh và trường tư thục về về khoản tiền này, có vấn đề pháp lý xảy ra thì trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo đến đâu?

Đừng để "văn bản sai thì bãi bỏ, còn hậu quả để xã hội tự gánh chịu"

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa XVI Nguyễn Thị Việt Nga - Phó Trưởng đoàn chuyên trách, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng cho biết, một văn bản quy phạm pháp luật nếu được ban hành chưa đúng thẩm quyền, chưa đúng hình thức hoặc có nội dung chưa phù hợp với văn bản pháp luật cấp trên, hệ lụy không chỉ dừng lại ở việc phải thu hồi, bãi bỏ. Nghiêm trọng hơn, nó có thể tạo ra một chuỗi hệ quả pháp lý, quản trị và xã hội rất phức tạp.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước, văn bản không phù hợp có thể làm suy giảm tính nghiêm minh, thống nhất của hệ thống pháp luật. Trong nhà nước pháp quyền, nguyên tắc căn bản là mọi hoạt động quản lý phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật, đúng thẩm quyền, đúng trình tự và đúng giới hạn được pháp luật cho phép. Nếu cơ quan quản lý vì mục tiêu quản lý thực tiễn, ban hành quy định vượt thẩm quyền, đặt thêm điều kiện, thêm mức trần, thêm nghĩa vụ pháp luật cấp trên không giao, dù động cơ có thể xuất phát từ yêu cầu quản lý, văn bản đó vẫn tiềm ẩn rủi ro pháp lý rất lớn.

Đặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục vốn có nhiều quan hệ tài chính nhạy cảm giữa nhà trường, phụ huynh và học sinh, văn bản chưa phù hợp có thể khiến cơ sở giáo dục rơi vào thế bị động. Nhà trường có thể "tưởng" rằng đang thực hiện đúng hướng dẫn của cơ quan quản lý, nhưng sau này lại bị xác định là thu sai, làm sai, thậm chí bị xem xét trách nhiệm ở mức rất nặng. Đây là rủi ro đặc biệt đáng lưu ý, bởi ranh giới giữa vi phạm hành chính, sai sót trong quản trị tài chính và trách nhiệm hình sự đôi khi bị đẩy đi rất xa nếu căn cứ pháp lý ban đầu không rõ ràng.

Đối với xã hội, hệ lụy lớn nhất là làm xói mòn niềm tin của người dân vào tính ổn định, minh bạch và dự báo của pháp luật. Vụ việc liên quan Quyết định 22 của Hà Nội là một ví dụ đáng suy ngẫm, khi quy định áp "giá trần" tiền học thêm bị Bộ Tư pháp xác định là chưa phù hợp với Thông tư 17, sau đó Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã bãi bỏ toàn bộ quyết định này.

dai-bieu-nga.jpg
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga - Phó Trưởng đoàn chuyên trách, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng. Ảnh: NVCC

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga nêu quan điểm, khi một quy định hoặc hướng dẫn quản lý bị xác định là chưa phù hợp với pháp luật, việc xử lý không thể chỉ dừng lại ở bãi bỏ văn bản. Bãi bỏ là cần thiết, nhưng đây mới là bước đầu tiên. Quan trọng hơn phải xem xét đầy đủ trách nhiệm trong toàn bộ quy trình tham mưu, thẩm định, ban hành, tổ chức thực hiện và cả việc sử dụng văn bản đó làm căn cứ xử lý tổ chức, cá nhân. Cụ thể:

Thứ nhất, cần xác định rõ văn bản sai ở mức độ nào: sai về hình thức, thẩm quyền, nội dung, hay sai cả về căn cứ pháp lý và trình tự ban hành. Nếu văn bản chỉ có sai sót kỹ thuật, trách nhiệm chủ yếu có thể là khắc phục, rút kinh nghiệm. Nhưng nếu văn bản đặt ra quy định vượt thẩm quyền, làm phát sinh nghĩa vụ mới cho người dân, doanh nghiệp, nhà trường hoặc được dùng làm căn cứ xử lý vi phạm, xử phạt, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự, cần phải xem xét trách nhiệm nghiêm túc hơn đối với cơ quan và cá nhân tham mưu, ký ban hành, thẩm định, kiểm tra văn bản.

Thứ hai, cần xem xét hậu quả thực tế văn bản đã gây ra. Trong trường hợp văn bản được dùng để xử lý sai phạm, cơ quan có thẩm quyền cần rà soát lại các quyết định, kết luận, biện pháp xử lý đã dựa trên văn bản đó, nhất là trường hợp làm phát sinh thiệt hại vật chất, danh dự, uy tín, quyền nghề nghiệp hoặc trách nhiệm pháp lý nghiêm trọng cho cá nhân, tổ chức.

Thứ ba, nếu việc ban hành hoặc áp dụng văn bản sai gây thiệt hại phải đặt vấn đề khôi phục quyền lợi hợp pháp cho người bị ảnh hưởng theo quy định pháp luật. Trường hợp có dấu hiệu thiếu trách nhiệm, cố ý làm trái, ban hành văn bản vượt thẩm quyền dù đã được cảnh báo, hoặc tiếp tục áp dụng khi đã có căn cứ cho thấy không phù hợp, cần xem xét trách nhiệm cá nhân cụ thể.

Quan trọng nhất phải tránh tình trạng "văn bản sai thì bãi bỏ, còn hậu quả để xã hội tự gánh chịu". Một nền hành chính có trách nhiệm phải biết sửa sai và làm rõ nguyên nhân của sai sót để bảo vệ công bằng cho những người đã chịu tác động từ sai sót đó.

Đồng quan điểm, Đại biểu quốc hội Trịnh Thị Tú Anh - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng cho rằng, rủi ro đầu tiên và trực tiếp nhất là hiệu ứng lan truyền sai lệch. Trong quản lý nhà nước, một văn bản cấp dưới không tồn tại độc lập - nó là nền tảng để ban hành hàng loạt quyết định hành chính tiếp theo, để hướng dẫn thực thi, thậm chí để xác định sai phạm và xử lý vi phạm.

Khi nền tảng đó có vấn đề về thẩm quyền hoặc không phù hợp với văn bản cấp trên, toàn bộ chuỗi quyết định được xây trên đó đều bị ảnh hưởng. Đáng lo ngại, chuỗi này có thể vận hành trong nhiều năm trước khi được phát hiện.

Rủi ro nghiêm trọng hơn nằm ở việc tuân thủ có thể trở thành sai phạm. Nhà trường, giáo viên hay cán bộ quản lý không có công cụ và không có nghĩa vụ pháp lý để tự kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của từng văn bản do cơ quan nhà nước ban hành. Trong thực tế, họ buộc phải thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, khi văn bản sau này bị xác định trái luật, người thực thi có nguy cơ trở thành đối tượng chịu trách nhiệm pháp lý. Đây là một nghịch lý và tạo ra cấu trúc rủi ro ngược, khi người ban hành văn bản chưa phải chịu hậu quả tương xứng, còn người thực hiện ở cấp cuối phải gánh toàn bộ hệ quả.

Không chỉ vậy, việc này còn gây ra rủi ro về chi phí tranh chấp và mất ổn định pháp lý. Đơn cử như Công văn 582 của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội quy định các trường tư thục không được tiền giữ chỗ trong tuyển sinh lớp 10, trong khi khái niệm như "tiền giữ chỗ" hiện chưa được định nghĩa cụ thể trong bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào. Khi tranh chấp xảy ra giữa phụ huynh và nhà trường, sẽ không có căn cứ pháp lý rõ ràng để giải quyết. Quy định như vậy tạo ra cảm giác tăng cường quản lý, nhưng thực chất là tạo thêm "vùng xám" pháp lý.

Ở cấp độ vĩ mô, hệ lụy sâu nhất là làm suy giảm tính dự đoán của pháp luật. Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân chỉ dám hành động khi biết trước hậu quả pháp lý của việc mình làm. Khi một quy định có thể bị xác định là sai sau nhiều năm áp dụng, nhiều người sẽ không dám thực hiện đến cùng những gì pháp luật cho phép.

041120250849-20251104-t7-14.jpg
Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh - Đại biểu Quốc hội chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: NVCC.

Hệ lụy khi dùng khái niệm chưa có trong luật để quy định

Dưới góc độ pháp lý, Luật sư Lê Văn Hoan - Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh nhìn nhận, khi ban hành văn bản sai thẩm quyền gây hệ lụy, cơ quan quản lý nhà nước cần rà soát và bãi bỏ ngay lập tức để tránh gây thêm thiệt hại, đồng thời có thể xem xét trách nhiệm cá nhân liên quan.

Phóng viên cũng đặt vấn đề về chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội yêu cầu "Trường tư không được yêu cầu học sinh, cha mẹ học sinh nộp tiền giữ chỗ, đặt cọc.." tại Công văn số 582

Theo ông Hoan, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cần rà soát để tránh ban hành văn bản can thiệp vào quan hệ dân sự như việc thỏa thuận phí giữ chỗ, đặt cọc giữa trường tư và phụ huynh khi chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng, cần rà soát kỹ tính hợp pháp, thẩm quyền và nội dung của văn bản theo quy định về kiểm tra, xử lý văn bản hành chính để kịp thời xử lý, tránh phát sinh tranh chấp và hệ lụy pháp lý.

ong-hoan.jpg
Luật sư Lê Văn Hoan - Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC.

Để tránh lặp lại sai lầm dẫn đến hệ lụy pháp lý, ông Hoan cho rằng, cơ quan quản lý nhà nước cần đặc biệt lưu ý nguyên tắc quản trị hiện đại và thượng tôn pháp luật trong quá trình soạn thảo văn bản.

Đầu tiên, cần tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc pháp quyền và thẩm quyền. Cơ quan ban hành phải xác định rõ ranh giới giữa quản lý nhà nước và quyền tự do dân sự. Văn bản hành chính, đặc biệt là công văn hướng dẫn tuyệt đối không được tự ý đặt ra "lệnh cấm" hoặc "nghĩa vụ mới" mà luật chuyên ngành chưa hoặc không quy định. Việc dùng văn bản dưới luật để can thiệp vào thỏa thuận dân sự là vi phạm thẩm quyền, dễ dàng bị tuyên vô hiệu khi có tranh chấp.

Ngoài ra, trước khi ban hành, cần dự báo văn bản có thể sẽ tác động như thế nào đến quyền lợi kinh tế của đối tượng chịu quản lý. Việc tham vấn ý kiến đối tượng chịu tác động và chuyên gia luật pháp độc lập là bước đệm quan trọng để phát hiện các vấn đề pháp lý bất cập.

Cuối cùng, cần phải bảo đảm tính thống nhất và minh bạch của hệ thống pháp luật. Văn bản ban hành sau không được mâu thuẫn với văn bản cấp trên và phải có ngôn ngữ pháp lý rõ ràng, tránh sử dụng khái niệm không có trong luật như "tiền giữ chỗ" để đưa vào văn bản quản lý mà không định nghĩa rõ ràng, gây ra sự "tùy nghi" trong áp dụng.

Trong khi đó, Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh nhận định, nếu hệ quả duy nhất của việc ban hành văn bản trái thẩm quyền chỉ dừng ở việc bãi bỏ văn bản sẽ khó ngăn chặn tình trạng tương tự tiếp tục tái diễn.

Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15, trách nhiệm cần được phân tầng rõ ràng. Ở tầng tổ chức, cơ quan ban hành phải chịu trách nhiệm giải trình về chất lượng văn bản và năng lực thẩm định pháp lý. Ở tầng cá nhân, người tham mưu soạn thảo, người ký ban hành có thể bị xem xét xử lý kỷ luật hành chính nếu có sai phạm rõ ràng về thẩm quyền hoặc quy trình. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, tầng trách nhiệm cá nhân ít khi được áp dụng thực chất, phần lớn dừng lại ở mức kiểm điểm nội bộ.

Về trách nhiệm bồi thường nhà nước, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 quy định, nếu văn bản trái pháp luật là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại cho tổ chức hoặc cá nhân, nhà nước có nghĩa vụ bồi thường. Tuy vậy, cơ chế này ít được vận dụng đúng mức, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và quản lý công. Vì vậy, nếu ban hành văn bản sai kéo theo trách nhiệm bồi thường và xử lý kỷ luật tương xứng, chất lượng soạn thảo văn bản sẽ được nâng lên nhờ áp lực chế tài đủ mạnh.

Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh cũng nhấn mạnh, để tránh phát sinh tranh chấp, khiếu kiện và các hệ lụy pháp lý về sau, khi xây dựng văn bản ở địa phương, cơ quan tham mưu cần xác định rõ căn cứ pháp lý cụ thể cho từng nội dung được ban hành, thay vì chỉ viện dẫn tinh thần chung. Trường hợp không xác định được căn cứ rõ ràng, không nên ban hành quy định.

Khánh Hòa