Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT ngày 17/02/2025 quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo đặt ra yêu cầu cụ thể hơn đối với hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục. Trong đó, nhấn mạnh việc các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục phải làm rõ mức độ đạt/không đạt của từng tiêu chí, đồng thời xây dựng hướng dẫn đánh giá để cơ sở đào tạo nhận diện đúng thực trạng và có cơ sở cải tiến chương trình.
Quy định này khẳng định vai trò quan trọng của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong việc đánh giá, thiết lập cơ chế trao đổi, hướng dẫn và phản hồi nhằm đưa hoạt động kiểm định đi vào thực chất.
Ghi nhận đánh giá của lãnh đạo một số trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục cho thấy, thực hiện Thông tư số 04 (có hiệu lực từ 4/4/2025) đoàn đánh giá ngoài có thể nhận diện rõ hơn những khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ đối với các cơ sở giáo dục đại học đặc biệt ở các tiêu chí điều kiện.
Đổi mới có chiều sâu nhất trong tư duy quản lý chất lượng giáo dục đại học
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Phụng - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện là Giám đốc Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Đông A đánh giá: "Trước đây, một trong những điều kiện để chương trình đào tạo đạt kiểm định chất lượng giáo dục là đạt 80% số tiêu chí trở lên. Nhưng đôi khi 20% còn lại không đạt lại toàn là những tiêu chí nền tảng, cốt lõi của chất lượng. Nếu trong trường hợp đó, việc đạt 80% số tiêu chí đánh giá trở thành hình thức, chưa đo được chất lượng. Khắc phục tình trạng trên, Thông tư số 04 xác định ngoài tỷ lệ số lượng tiêu chí phải đạt, chương trình đào tạo muốn đạt chuẩn phải đạt tất cả các tiêu chí điều kiện".
Cũng theo cô Phụng, các tiêu chí điều kiện là nền tảng, cốt lõi của các tiêu chuẩn như: chất lượng đầu vào, số và chất lượng giảng viên và đặc biệt là định hướng cho mọi hoạt động của chương trình đào tạo đều phải hướng tới đạt chuẩn đầu ra một cách thực chất và nâng cao tỷ lệ việc làm của người học tốt nghiệp. Tiêu chí điều kiện giúp khắc phục hiện tượng có chương trình đào tạo đạt kiểm định chất lượng giáo dục nhưng thực tế vẫn còn những yếu kém đáng kể. "Như vậy, quy định này là một trong những đổi mới có chiều sâu nhất trong tư duy quản lý chất lượng giáo dục đại học của Thông tư 04", Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Phụng bày tỏ.
Bên cạnh đó, các tiêu chí điều kiện cũng khắc phục hiện tượng có chương trình thiếu giảng viên, cơ sở vật chất chưa phù hợp với quy mô đào tạo, đặc biệt là chưa đủ dữ liệu đầu ra, chưa vận hành đầy đủ hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong đã triển khai tự đánh giá và đánh giá ngoài để nâng cao chỉ tiêu tuyển sinh, xác định mức học phí cao, quảng bá thương hiệu chưa thực chất… Thực tế, với những trường hợp này, đoàn chuyên gia đánh giá ngoài khó có thể tư vấn phát triển (khi một số điều cơ bản còn chưa đạt) mà bất đắc dĩ phải trở thành người tập trung khuyến nghị một số vấn đề cơ bản, đã được quy định nhưng trường chưa thực hiện, thay vì đáng lẽ là cần tư vấn nâng cao chất lượng, phổ biến kinh nghiệm thực hành tốt… đúng tầm chuyên gia để phát triển chương trình đào tạo, phát triển nhà trường ở tầm cao hơn sau mỗi chu kỳ đánh giá.
Hơn nữa, chi phí kiểm định không nhỏ đối với cả cơ sở đào tạo, trung tâm kiểm định và chuyên gia đánh giá ngoài. Do đó, nếu kiểm định chất lượng giáo dục chỉ làm những việc đánh giá số lượng tiêu chí đạt theo chu kỳ, khuyến nghị một số điều cơ bản thì đó là sự lãng phí nguồn lực của cả xã hội.
"Các tiêu chí điều kiện định hướng cho việc chương trình đào tạo muốn đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục thì ngay từ đầu phải đầu tư cho các điều kiện chất lượng cốt lõi, nền tảng; xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, vận hành có hệ thống; các điều kiện bảo đảm chất lượng phải được rà soát trong suốt quá trình, có minh chứng lưu theo thời gian và có dữ liệu thực, được cải tiến liên tục, hệ thống có cảnh báo sớm để hướng tới đạt chuẩn đầu ra thực chất… Từ đó, giúp bảo vệ uy tín của hệ thống kiểm định, bảo vệ người học khỏi các chương trình chưa đủ năng lực nhưng vẫn muốn được gắn “nhãn chất lượng”", cô Phụng chia sẻ.
Đồng tình với những chia sẻ trên, Tiến sĩ Nguyễn Văn Đường - Giám đốc Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Thăng Long cho biết, Thông tư 04 đặt ra yêu cầu rất rõ ràng, đó là chương trình đào tạo muốn được đánh giá phải đáp ứng các tiêu chí điều kiện ngay từ khâu tự đánh giá. Quy định siết lại về chất lượng, buộc các cơ sở đào tạo phải nhìn lại toàn bộ hệ thống vận hành chương trình, từ thiết kế, tổ chức giảng dạy đến kiểm tra, đánh giá theo chuẩn đầu ra.
“Ý nghĩa lớn nhất của quy định tiêu chí điều kiện nằm ở chỗ chuyển trọng tâm từ “mô tả những gì đang có” sang “chứng minh được chất lượng đạt đến đâu”. Từ đó, đòi hỏi nhà trường phải có hệ thống bảo đảm chất lượng vận hành thực sự, có quy trình, có dữ liệu và có khả năng đo lường kết quả đầu ra tại thời điểm người học tốt nghiệp”, thầy Đường chia sẻ.
Nhận diện những vướng mắc
Cô Phụng cho rằng, so với những đợt tập huấn trước, việc bảo đảm chất lượng, kiểm định chất lượng giáo dục ở nhiều trường đã ở mức cao hơn, nhất là ở các trường mà lãnh đạo trường am hiểu về công tác bảo đảm chất lượng thì đã có sự đầu tư đáng kể. Vì vậy, việc tập huấn phải gắn với quá trình số hóa, công nghệ hóa và thiên về trao đổi thảo luận, giải đáp vướng mắc, cung cấp các biểu mẫu chuẩn, các thực hành tốt… để các trường áp dụng ngay, làm ngay, sản phẩm chuẩn ngay từ lần đầu tiên.
Đáp ứng yêu cầu trên, Trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục Đông A đã kết hợp với một số chuyên gia giỏi, thạo về tác nghiệp thực chiến ở các trường top đầu, theo hình thức song giảng để các trường được tập huấn đạt được mục tiêu một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. Với đội ngũ chuyên gia có nhiều kinh nghiệm, trung tâm đã thiết lập số điện thoại hotline để giải đáp vướng mắc cho các trường (nếu có yêu cầu). Trung tâm đã hỗ trợ một số trường hiểu rõ những điểm mới của Thông tư số 04, đặc biệt là các tiêu chí điều kiện và những việc cần thiết phải chuẩn bị thực hiện.
“Trong quá trình tiếp xúc với nhiều trường cho thấy, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay khi áp dụng Thông tư 04 là vấn đề “đo lường, đánh giá chuẩn đầu đầu ra chương trình đào tạo tại thời điểm người học tốt nghiệp”. Bởi, chuẩn đầu ra đã được đánh giá trong suốt quá trình, sau mỗi học phần. Vậy, đến thời điểm người học tốt nghiệp sẽ đánh giá những gì, đánh giá như thế nào… để khả thi, không lặp lại và đúng tính chất là kỳ đánh giá cuối cùng để khẳng định người học đủ điều kiện tốt nghiệp.
Do đó, trung tâm đã tổ chức buổi sinh hoạt chuyên môn có sự tham gia của đại diện nhiều trường đại học ở khắp các miền Bắc, Trung và Nam; có các kiểm định viên cơ hữu và cộng tác viên, học viên các khóa của trung tâm tham dự. Những buổi sinh hoạt chuyên môn vừa góp phần nâng cao năng lực hệ thống vừa là hoạt động phục vụ cộng đồng của trung tâm. Sau hoạt động đó, trung tâm dự kiến sẽ tập huấn chuyên sâu hơn cho các trường, cụm trường có nhu cầu, phụ thuộc vào yêu cầu và đặc thù của mỗi trường”, cô Phụng chia sẻ.
Còn tại Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Thăng Long, thầy Đường cho biết, trung tâm đã chủ động xây dựng tài liệu hướng dẫn chi tiết cho từng tiêu chí, trong đó làm rõ nội hàm, cách hiểu và cách triển khai. Các hoạt động tập huấn được tổ chức linh hoạt, kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến tùy điều kiện từng cơ sở.
Nội dung tập huấn tập trung vào các phần chính như: hướng dẫn xây dựng hệ thống minh chứng; hỗ trợ các trường tự rà soát, xác định hiện trạng chương trình đào tạo; và hướng dẫn viết báo cáo tự đánh giá cũng như chuẩn bị cho đánh giá ngoài. Đồng thời, trung tâm cũng đặt ra các câu hỏi mang tính chẩn đoán để giúp các trường nhìn rõ khoảng cách giữa yêu cầu của Thông tư và thực trạng triển khai.
Từ thực tiễn triển khai công tác tập huấn, lãnh đạo các trung tâm đều ghi nhận những vướng mắc mà cơ sở giáo dục gặp phải. Theo thầy Đường, khó khăn lớn nhất của các trường nằm ở khâu thiết kế chương trình đào tạo và tổ chức dạy học gắn với chuẩn đầu ra. Không ít cơ sở vẫn tiếp cận theo kinh nghiệm chủ quan, trong khi yêu cầu của Thông tư số 04 đòi hỏi phải có minh chứng đo lường cụ thể.
Ngoài ra, cơ sở giáo dục còn thiếu hệ thống quy định nội bộ. Nhiều trường chưa xây dựng đầy đủ quy trình về thiết kế chương trình, kiểm tra đánh giá, thu thập và xử lý dữ liệu, khiến việc chứng minh mức độ đạt chuẩn đầu ra trở nên lúng túng.
“Các tiêu chí liên quan đến chuẩn đầu ra là khó nhất. Chuẩn đầu ra không dừng ở việc tuyên bố, mà phải được lượng hóa và đánh giá tại thời điểm tốt nghiệp. Và muốn làm được điều này, nhà trường cần thiết kế phương pháp đánh giá đa dạng, có sự tham gia của giảng viên và đơn vị quản lý chương trình, đồng thời phải có kế hoạch cải tiến liên tục dựa trên dữ liệu thu thập được”, thầy Đường chia sẻ.
Trong khi đó, cô Phụng cho rằng, thứ nhất, việc chuyển từ quản lý chất lượng đầu vào (như tuyển sinh, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất) sang quản lý chất lượng theo quá trình và chuẩn đầu ra đặt ra yêu cầu cao về tính hệ thống. Đây là sự thay đổi cần lộ trình đủ dài để bảo đảm sự đồng bộ và hiệu quả.
Thứ hai, ở nhiều trường, các phần mềm phục vụ công tác bảo đảm chất lượng còn rời rạc, thiếu kết nối, dẫn đến tình trạng dữ liệu và minh chứng thiếu nhất quán, mất nhiều thời gian tổng hợp nhưng vẫn chưa bảo đảm độ tin cậy.
Thứ ba, sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là các đối tác ngoài nhà trường như doanh nghiệp sử dụng lao động, hiệp hội nghề nghiệp hay cựu sinh viên vẫn còn hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng và cải tiến chương trình đào tạo theo nhu cầu thực tiễn.
Thứ tư, tại nhiều cơ sở đào tạo chuyên ngành, đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản về giáo dục học, bảo đảm chất lượng, phát triển chương trình hay đo lường đánh giá trong giáo dục còn thiếu.
Thiết lập cơ chế trao đổi, tư vấn và phản hồi xuyên suốt
Thông tư số 04 khẳng định vai trò của các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục, nhất là ở việc thiết lập cơ chế trao đổi, tư vấn và phản hồi nhằm hướng hoạt động kiểm định vào mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục.
Thầy Đường chia sẻ, đơn vị đã có sự chuẩn bị từ sớm, xây dựng hệ thống tài liệu hướng dẫn tương đối đầy đủ. Vấn đề không nằm ở việc thiếu hướng dẫn, mà ở khả năng tiếp cận và hiểu sâu các tiêu chí của từng cơ sở đào tạo.
Để hỗ trợ các trường, trung tâm duy trì nhiều kênh trao đổi khác nhau. Một số trường chủ động mời chuyên gia đến làm việc trực tiếp; một số khác tham gia các khóa tập huấn định kỳ. Bên cạnh đó, trung tâm cũng tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ chuyên gia đánh giá ngoài nhằm bảo đảm cách hiểu và cách triển khai thống nhất.
“Mỗi trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục đều có những hướng dẫn cụ thể riêng trong khuôn khổ Thông tư số 04, bao gồm cách xác định mức đạt của tiêu chí và cách sử dụng minh chứng. Chính vì thế, các cơ sở đào tạo khi lựa chọn trung tâm cần bám sát hướng dẫn của đơn vị đó để tránh tình trạng làm theo cách hiểu chung nhưng không đáp ứng yêu cầu cụ thể”, thầy Đường chia sẻ.
Tại Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Đông A, cô Phụng cho biết, trung tâm có mạng lưới kiểm định viên, đối tác và cộng tác viên được duy trì thông qua các kênh trao đổi trực tuyến, tạo không gian chia sẻ chuyên môn, giải đáp vướng mắc và cập nhật thông tin trong toàn hệ thống. Đây được xem là một trong những kênh hỗ trợ linh hoạt, giúp các cơ sở đào tạo tiếp cận kịp thời với các quy định mới và các phương pháp đánh giá hiện đại.
Trung tâm cũng chú trọng nâng cao năng lực đội ngũ thông qua việc mời các chuyên gia giàu kinh nghiệm tham gia hội đồng kiểm định và các đoàn đánh giá ngoài. Cơ chế phản hồi được thực hiện xuyên suốt qua các khâu như thẩm định báo cáo tự đánh giá, khảo sát sơ bộ, khảo sát chính thức và trao đổi về nội dung báo cáo đánh giá ngoài. Qua đó, quá trình kiểm định không chỉ dừng lại ở việc “đạt” hay “không đạt”, mà hướng tới tư vấn cải tiến, lan tỏa các mô hình hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong toàn hệ thống.
Bên cạnh đó, trung tâm cũng biên soạn các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, sổ tay kiểm định viên nhằm thống nhất nhận thức và phương pháp đánh giá theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả.
“Trung tâm xác định việc đồng hành cùng các cơ sở đào tạo sau khi được công nhận đạt chuẩn là một nhiệm vụ quan trọng. Không dừng lại ở kết quả kiểm định ban đầu, các hoạt động hỗ trợ tiếp tục được triển khai để các trường thực hiện khuyến nghị, cải tiến chất lượng, hướng tới kết quả tích cực ngay trong báo cáo giữa kỳ và nâng cao chất lượng ở các chu kỳ kiểm định tiếp theo”, cô Phụng khẳng định.