Bộ tiêu chí ở Thông tư 04 đòi hỏi trung tâm kiểm định và CSGDĐH phải thống nhất quan điểm đánh giá

13/05/2026 06:25
Ngọc Mai
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Thông tư số 04 là quy định mới, trong khi bộ tiêu chí lại đi sâu, chi tiết, dẫn đến khối lượng công việc đang gia tăng lên đáng kể.

Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT ngày 17/02/2025 quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học được kỳ vọng tạo khung chuẩn rõ ràng cho việc xây dựng, vận hành và cải tiến hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ trong các cơ sở giáo dục.

Thông tư cũng định hướng kiểm soát toàn diện các khâu liên quan đến chương trình đào tạo, từ tự đánh giá đến cải tiến liên tục, với mục tiêu nâng cao thực chất chất lượng đào tạo.

Kể từ khi có hiệu lực (ngày 4/4/2025), Thông tư số 04 được đánh giá phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay. Tuy vậy, do bộ tiêu chí được thiết kế theo hướng chuyên sâu, lại là văn bản mới, nên cơ sở đào tạo vừa thực hiện vừa tháo gỡ vướng mắc.

Tăng áp lực nâng chuẩn chất lượng chương trình đào tạo

Ghi nhận thực tế tại cơ sở giáo dục đại học, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Ngô Hồng Việt - Phó Trưởng phòng Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng Trường Đại học Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT đang định hình lại cách tiếp cận kiểm định chất lượng chương trình đào tạo theo hướng chặt chẽ, đi vào thực chất. Trọng tâm của bộ tiêu chí là yêu cầu các chương trình phải được thiết kế, vận hành và đánh giá xoay quanh chuẩn đầu ra, với hệ thống minh chứng cụ thể, chứ không mô tả mang tính khái quát như trước.

Giờ thực hành kiểm tra các chỉ số y học trong hoạt động thể lực của thầy và trò Trường Đại học Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC
Giờ thực hành kiểm tra các chỉ số y học trong hoạt động thể lực của thầy và trò Trường Đại học Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Một số tiêu chí điều kiện đặt nền móng cho việc tái cấu trúc chương trình đào tạo. Trong đó, chuẩn đầu ra trở thành trục xuyên suốt, chi phối từ cấu trúc chương trình đến nội dung từng học phần. Mỗi học phần phải xác định rõ đóng góp vào chuẩn đầu ra, có đề cương chi tiết, giáo trình, tài liệu giảng dạy, ngân hàng câu hỏi, đáp án… Đây là những thành phần bắt buộc trong bộ hồ sơ minh chứng, thể hiện mức độ “cứng hóa” yêu cầu quản lý chất lượng.

Tiêu chí điều kiện về hoạt động dạy học và kiểm tra đánh giá được yêu cầu thiết kế tương thích với chuẩn đầu ra, đồng thời phải đo lường được mức độ đạt được của người học. Ngoài ra, tiêu chí điều kiện cũng tập trung vào bảo đảm chất lượng từ đội ngũ giảng viên đến hệ thống học liệu, thư viện, thư viện số, yêu cầu được cập nhật và theo dõi để phục vụ nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu.

Bên cạnh đó, tiêu chí điều kiện yêu cầu tuyển sinh phải có chính sách, quy trình rõ ràng, công khai và cập nhật; trong khi kết quả đào tạo được phản ánh qua tỷ lệ việc làm, khả năng học tiếp, khởi nghiệp của người học sau tốt nghiệp, làm cơ sở để đối sánh và cải tiến chương trình.

“Việc áp dụng các tiêu chí điều kiện mang lại nhiều thuận lợi trong chuẩn hóa chương trình đào tạo. Những ngành trước đây chưa được đầu tư đầy đủ buộc phải rà soát, hoàn thiện hồ sơ giảng dạy, từ đó tạo điều kiện học tập rõ ràng, minh bạch hơn cho người học. Việc chuyển từ đánh giá theo thang điểm sang đạt/không đạt cũng giúp giảm áp lực điểm số, tập trung vào việc đáp ứng tiêu chí”, thầy Việt chia sẻ.

Cũng theo thầy Việt, với thông tư mới, việc ban hành kèm theo các biểu mẫu chi tiết cũng giúp các cơ sở đào tạo xác định rõ mình đang thiếu những minh chứng nào để bổ sung. Thông qua các hoạt động tập huấn do cơ quan quản lý, các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục và nhà trường tổ chức, đội ngũ giảng viên từng bước nắm được cách xây dựng đề cương chi tiết, mô tả chương trình đào tạo và triển khai các yêu cầu theo hướng chuyên sâu. Trong đó, đội ngũ làm công tác đảm bảo chất lượng đóng vai trò hướng dẫn, chuyển giao quy trình, còn giảng viên là lực lượng trực tiếp xây dựng nội dung và hoàn thiện báo cáo.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất nằm ở việc Thông tư số 04 là quy định mới, trong khi bộ tiêu chí lại đi sâu, chi tiết, dẫn đến khối lượng công việc tăng lên đáng kể. Nhà trường phải xây dựng lại gần như toàn bộ, từ mô tả chương trình đào tạo đến đề cương chi tiết học phần theo biểu mẫu mới. “Trước đây làm nhanh, còn bây giờ đòi hỏi chuyên sâu dẫn tới tốn nhiều thời gian”, thầy Việt bày tỏ.

Trong quá trình triển khai, vẫn xảy ra tình trạng nhầm lẫn giữa biểu mẫu cũ và mới, dẫn đến nội dung chồng chéo, phải chỉnh sửa nhiều lần. Việc “ghép” nội dung cũ vào khung mới khiến báo cáo thiếu thống nhất, gây khó khăn cho cả cơ sở đào tạo và đơn vị kiểm định.

Ngoài ra, áp lực về minh chứng cũng tăng lên khi nhiều tiêu chí yêu cầu gắn với hoạt động phục vụ cộng đồng, buộc nhà trường phải bổ sung thêm biên bản, tài liệu. Khối lượng giấy tờ lớn, trong khi giảng viên vẫn phải đảm nhiệm giảng dạy và nghiên cứu khoa học, khiến việc dành thời gian cho kiểm định trở nên vất vả hơn.

Được biết, nhà trường hiện có 3 chương trình đào tạo đang chuẩn bị được kiểm định chất lượng giáo dục theo Thông tư số 04, gồm chương trình đào tạo Y sinh học thể dục thể thao và Giáo dục thể chất trình độ đại học (bắt buộc kiểm định chất lượng giáo dục); chương trình đào tạo Giáo dục học trình độ thạc sĩ. Quá trình triển khai cho thấy có nhiều lúng túng ban đầu do vừa áp dụng quy định mới, vừa phải hoàn thiện ngay trong thực tế.

Chia sẻ về thực tế này, thầy Việt cho biết, các biểu mẫu hiện phù hợp hơn với chương trình đại học, trong khi với trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, người học chủ yếu đã đi làm, thời gian và hình thức đào tạo khác biệt, nên việc áp dụng biểu mẫu chung còn gây vướng.

Để khắc phục khó khăn, nhà trường đã tổ chức tập huấn liên tục, có thời điểm 1–2 tuần/lần, mời chuyên gia và trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục hỗ trợ trực tiếp. Đội ngũ làm công tác đảm bảo chất lượng được tập huấn trước, sau đó hướng dẫn lại cho các khoa. Trong quá trình thực hiện, sai ở đâu sửa ở đó, vừa làm vừa hoàn thiện.

“Cơ sở đào tạo cần được các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục hỗ trợ sâu hơn để hiểu và triển khai đúng quy định. Đồng thời, cần có sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng tiêu chí giữa các đơn vị, tránh tình trạng mỗi nơi làm một kiểu, dẫn đến chồng chéo, sai sót”, thầy Việt bày tỏ.

Cần sự thống nhất về nhận thức và cách làm

Có thể thấy, hiệu quả của hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục không phụ thuộc vào nỗ lực của riêng từng trường, mà đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ với các chuyên gia và tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục.

Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Ứng Vận - nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ, người từng đảm nhận vai trò trưởng đoàn của nhiều đoàn đánh giá ngoài về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo đại học cho rằng, việc Thông tư số 04 đặt ra các tiêu chí điều kiện là bước đi cần thiết để đưa hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục về đúng bản chất.

thay-van.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận - nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ. Ảnh: website Học viện Ngân hàng.

Trách nhiệm của các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục là phải giúp các cơ sở đào tạo hiểu đúng để làm đúng. Ngay trong Thông tư số 04 cũng đã quy định rõ, các trung tâm cần cụ thể hóa mức đạt/không đạt và xây dựng hướng dẫn đánh giá, qua đó giúp nhà trường nhận diện thực trạng và cải tiến chất lượng chương trình đào tạo.

Thầy Vận nhấn mạnh, các tiêu chí điều kiện thực chất là ngưỡng tối thiểu mà chương trình đào tạo cần đáp ứng. Buộc phải đạt các tiêu chí này nghĩa là các cơ sở giáo dục mới thực sự bước vào quá trình nâng cao chất lượng, tránh làm việc mang tính đối phó.

“Với những tiêu chí điều kiện, ví dụ như chuẩn đầu ra chương trình đào tạo (tiêu chí 1.3), việc đáp ứng không phải quá khó nếu nhà trường nắm đúng cách làm. Vấn đề cần đặt ra là năng lực của đội ngũ giảng viên, chính là những thầy cô trực tiếp thiết kế, phát triển chương trình và xây dựng hệ thống minh chứng. Và đề làm được điều này, hoạt động bồi dưỡng, tập huấn cần được triển khai rộng, đi đến từng giảng viên, chứ không dừng ở cấp quản lý”, thầy Vận chia sẻ.

Trong khi đó, Tiến sĩ, Luật sư Nguyễn Thị Thu Hà - Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương, chuyên gia về kiểm định chất lượng giáo dục chia sẻ, do Thông tư số 04 mới ban hành nên có thể hiện nay chưa nhiều cơ sở đào tạo đăng ký kiểm định chất lượng giáo dục theo quy định này. Và thực tế, cũng không ít trường trước đó đã hoàn thành kiểm định chất lượng giáo dục đối với chương trình đào tạo theo thông tư cũ, nên cần thêm thời gian để chuyển đổi sang bộ tiêu chí đánh giá mới.

co-ha.jpg
Tiến sĩ, Luật sư Nguyễn Thị Thu Hà - Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương. Ảnh: website nhà trường.

Ngay tại Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương, đến nay chưa có chương trình đào tạo nào thực hiện kiểm định theo Thông tư số 04. Các hoạt động tập huấn do các trung tâm tổ chức cũng đang ở giai đoạn đầu, triển khai theo các văn bản mới ban hành.

Hơn nữa, khó khăn lớn nhất hiện nay không nằm ở bản thân bộ tiêu chí, mà ở việc tổ chức triển khai trong nhà trường; làm sao hướng dẫn giảng viên xây dựng đề cương chi tiết, báo cáo tự đánh giá đúng chuẩn, hạn chế sai sót. Điều này đòi hỏi công tác tập huấn phải được mở rộng, có tính hệ thống bằng việc trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục tập huấn cho trường, và trường tiếp tục tập huấn lại cho giảng viên.

Bên cạnh đó, Giáo sư Đặng Ứng Vận cũng lưu ý cần thống nhất trong cách hiểu và cách đánh giá giữa các bên liên quan. Không chỉ các cơ sở đào tạo, mà chính đội ngũ chuyên gia đánh giá ngoài cũng cần được tập huấn để bảo đảm sự đồng nhất về quan điểm.

"Các trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục hiện đã tích cực thiết lập cơ chế trao đổi, hướng dẫn và phản hồi giữa nhà trường, trung tâm và đội ngũ chuyên gia.

Chúng ta cần đặt hoạt động này trong xu thế chung của thế giới về đảm bảo chất lượng giáo dục đại học. Cần có sự thống nhất về nhận thức và cách làm, cùng với việc đầu tư đúng mức cho đội ngũ giảng viên, việc đáp ứng các tiêu chí điều kiện theo Thông tư số 04 để triển khai một cách khả thi, thậm chí là cơ hội để nâng chuẩn chất lượng đào tạo trong dài hạn”, thầy Vận chia sẻ.

Khoản 1, Điều 13, Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT ngày 17/02/2025 quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học nêu rõ các tiêu chí điều kiện bao gồm:

Tiêu chí 1.3: Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo phù hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam và chuẩn chương trình đào tạo nhóm ngành, bao gồm chuẩn đầu ra chung và chuẩn đầu ra chuyên biệt.

Tiêu chí 1.6: Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo được đo lường đánh giá tại thời điểm người học tốt nghiệp.

Tiêu chí 2.2: Cấu trúc và nội dung của chương trình đào tạo được thiết kế và phát triển để bảo đảm người học đạt được chuẩn đầu ra và có khối lượng học tập phù hợp với quy định.

Tiêu chí 2.4: Đóng góp của từng học phần trong việc đạt được chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo là rõ ràng.

Tiêu chí 3.2: Hoạt động dạy và học được thiết kế tương thích với chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.

Tiêu chí 4.5: Các phương pháp đánh giá kết quả học tập bảo đảm đo lường được mức độ đạt chuẩn đầu ra của từng học phần và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.

Tiêu chí 5.2: Số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình đào tạo theo quy định; khối lượng công việc của đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên được đo lường, giám sát để cải tiến chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và kết nối phục vụ cộng đồng.

Tiêu chí 6.1: Chính sách, tiêu chí và quy trình tuyển sinh được xác định rõ ràng theo yêu cầu của chương trình đào tạo; được công bố công khai và được cập nhật.

Tiêu chí 7.3: Có thư viện, thư viện số và nguồn học liệu được cập nhật đáp ứng nhu cầu đào tạo, nghiên cứu khoa học, có cập nhật tiến bộ về công nghệ thông tin - truyền thông.

Tiêu chí 8.2: Tỉ lệ việc làm bao gồm cả tự tạo việc làm, khởi nghiệp và học tập nâng cao trình độ của người học tốt nghiệp được xác lập, giám sát và đối sánh để cải tiến chất lượng.

Ngọc Mai