Khi xã hội hiểu đúng giá trị thì cách ứng xử, đầu tư và quản trị với khoa học cơ bản sẽ khác

01/06/2026 06:30
Võ Văn Minh

GDVN -Có một nền tảng âm thầm mà nếu không đủ mạnh thì mọi khát vọng phát triển bền vững đều khó có thể đi đến đích. Đó chính là khoa học cơ bản.

Trong nhiều năm qua, khi nhắc đến động lực phát triển đất nước, người ta thường nói nhiều đến tăng trưởng kinh tế, đầu tư hạ tầng, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo hay công nghệ cao. Nhưng sâu xa hơn tất cả những điều đó, có một nền tảng âm thầm mà nếu không đủ mạnh thì mọi khát vọng phát triển bền vững đều khó có thể đi đến đích. Đó là khoa học cơ bản.

Bài phát biểu kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về nghiên cứu khoa học cơ bản vừa qua không chỉ là một chỉ đạo chuyên ngành khoa học mà còn là thông điệp chiến lược về mô hình phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững thì phải chuyển từ nền kinh tế dựa nhiều vào tài nguyên, lao động giá rẻ và gia công sang nền kinh tế phát triển dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng con người.

Điều đặc biệt đáng chú ý là lần này, khoa học cơ bản không còn được nhìn như một hoạt động học thuật thuần túy của các viện nghiên cứu hay trường đại học, mà được đặt ở vị trí nền móng của năng lực tự chủ quốc gia, năng lực cạnh tranh dài hạn và chiều sâu phát triển dân tộc. Đây là một bước chuyển rất quan trọng trong tư duy phát triển.

2aoboqzmqcy15cz2y86vuoqfbkqq0sxgbaiappjk.jpg
Ảnh minh họa được tạo bởi AI

Vai trò đã được nhìn thấy, nhưng đầu tư chưa thật sự tương xứng

Trong thực tế, vai trò của khoa học cơ bản chưa bao giờ bị phủ nhận. Chúng ta đều hiểu rằng không có toán học thì khó có trí tuệ nhân tạo; không có vật lí cơ bản thì khó có bán dẫn hay công nghệ lượng tử; không có sinh học nền tảng thì khó phát triển công nghệ sinh học; không có khoa học xã hội và nhân văn thì khó xây dựng thể chế, phát triển văn hóa, con người và năng lực quản trị quốc gia.

Tuy nhiên, điều đáng suy nghĩ là dù nhận thức được vai trò quan trọng ấy, trong một thời gian dài, khoa học cơ bản vẫn chưa được đầu tư tương xứng và chưa được đặt đúng vị trí trong hệ sinh thái phát triển quốc gia.

Nhiều lĩnh vực khoa học nền tảng đang đứng trước những thách thức không nhỏ, như số lượng người học giảm dần; nhiều ngành khoa học cơ bản khó tuyển sinh; đội ngũ giáo sư đầu ngành ngày càng lớn tuổi; lực lượng kế cận còn mỏng; nhà khoa học trẻ thiếu môi trường phát triển lâu dài; đầu tư nghiên cứu còn phân tán; cơ chế quản lí đôi khi vẫn nặng tính hành chính hơn là khuyến khích sáng tạo.

Không ít nhà khoa học tâm huyết đã từng mang cảm giác rằng khoa học cơ bản đang dần lùi về phía sau trong dòng chảy phát triển nóng của xã hội hiện đại. Bởi khoa học cơ bản vốn không tạo ra “trái ngọt tức thì”. Nó đòi hỏi sự kiên trì, đầu tư dài hạn, môi trường học thuật tự do và một niềm tin đủ lớn vào giá trị của tri thức nền tảng.

Không có công nghệ chiến lược nào hình thành từ khoảng trống tri thức

Lịch sử phát triển của các quốc gia có nền khoa học mạnh đều cho thấy: không có công nghệ chiến lược nào xuất hiện từ khoảng trống tri thức. Những thành tựu đột phá về AI, vật liệu mới, công nghệ sinh học, năng lượng hay dữ liệu lớn hôm nay đều được hình thành từ các nghiên cứu cơ bản kéo dài nhiều thập niên trước đó.

Nói cách khác, công nghệ đỉnh cao hôm nay chính là “hoa trái” của khoa học cơ bản ngày hôm qua. Bởi vậy, việc người đứng đầu Đảng và Nhà nước nhiều lần nhấn mạnh vai trò nền tảng của nghiên cứu khoa học cơ bản có thể xem như một tín hiệu rất tích cực đối với giới khoa học và giáo dục đại học. Nhưng điều quan trọng hơn, đó là tín hiệu cho thấy Việt Nam đang từng bước xác lập một tư duy phát triển mới: lấy tri thức làm nền tảng, lấy khoa học và đổi mới sáng tạo làm động lực, lấy con người chất lượng cao làm trung tâm của phát triển.

Điều đáng chú ý trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là khoa học cơ bản không được đặt tách rời với đổi mới sáng tạo mà được nhìn trong mối liên kết hữu cơ với công nghệ chiến lược, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và năng lực tự chủ quốc gia.

Khi khoa học cơ bản được đặt vào hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Khi khoa học cơ bản được kết nối hiệu quả với đại học nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, dữ liệu lớn, AI, hệ sinh thái khởi nghiệp, quỹ đầu tư nghiên cứu, chính sách quốc gia, thì giá trị tạo ra sẽ không tăng theo kiểu tuyến tính mà có thể mang tính nhảy vọt.

Một phát minh nền tảng trong toán học có thể mở ra thế hệ thuật toán mới. Một nghiên cứu trong sinh học phân tử có thể hình thành công nghệ y sinh mới. Một nghiên cứu xã hội học hay giáo dục học có thể tác động đến chất lượng nguồn nhân lực của cả một thế hệ. Đó chính là giá trị chiến lược lâu dài của khoa học cơ bản.

Tất nhiên, khát vọng phát triển khoa học cơ bản sẽ trở thành hiện thực nếu đi cùng những thay đổi đồng bộ về thể chế, cơ chế và quản trị.

Khoa học chỉ có thể bứt phá trong một môi trường tôn trọng sáng tạo

Khoa học cần môi trường sáng tạo. Mà sáng tạo thì không thể phát triển trong tư duy quản lí quá thiên về thủ tục, ngắn hạn hay tâm lí sợ rủi ro.

Muốn có nền khoa học mạnh thì phải chấp nhận đầu tư dài hạn cho những nghiên cứu chưa thể thấy kết quả ngay lập tức. Phải chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm; từ quản lí hành chính sang quản trị sáng tạo; từ đánh giá theo hồ sơ sang đánh giá bằng chất lượng và tác động thực sự.

Quan trọng hơn cả, cần xây dựng được môi trường học thuật trung thực, nơi nhà khoa học được tôn trọng, được trao cơ hội và được bảo vệ để theo đuổi những ý tưởng lớn.

Trong tất cả những điều cần cho khoa học cơ bản, có lẽ điều quan trọng nhất không chỉ là tiền đầu tư, mà là sự thấu hiểu và tôn trọng thật sự đối với giá trị của lao động trí tuệ.

Bởi khi xã hội hiểu đúng giá trị của khoa học cơ bản, cách ứng xử với nhà khoa học sẽ khác; cách đầu tư sẽ khác; cách quản trị sẽ khác; và cả sự kiên nhẫn đối với những giá trị dài hạn cũng sẽ khác.

Muốn có khoa học mạnh phải bắt đầu từ giáo dục phổ thông

Một vấn đề rất đáng suy nghĩ khác là: muốn có khoa học cơ bản mạnh thì phải bắt đầu từ giáo dục phổ thông.

Không thể có nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao nếu giáo dục phổ thông chưa thực sự nuôi dưỡng năng lực tư duy, khả năng khám phá và niềm say mê khoa học ở học sinh.

Một nền giáo dục thiên quá nhiều về ghi nhớ, thi cử và khuôn mẫu sẽ khó tạo ra những con người có năng lực sáng tạo khoa học.

Do đó, phát triển khoa học cơ bản không thể tách rời việc nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, đổi mới đào tạo giáo viên và xây dựng hệ sinh thái phát hiện – bồi dưỡng – đào tạo nhân tài từ sớm.

Ở đây, vai trò của các trường đại học đào tạo khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là các trường sư phạm, trở nên hết sức quan trọng.

Các trường đại học không chỉ là nơi đào tạo nhân lực, mà cần trở thành trung tâm tạo ra tri thức mới, phát triển dữ liệu, kết nối đổi mới sáng tạo và nuôi dưỡng các nhóm nghiên cứu mạnh.

Các trường sư phạm cũng không chỉ dừng ở nhiệm vụ đào tạo giáo viên, mà cần tham gia sâu hơn vào nghiên cứu khoa học giáo dục, tâm lí học, khoa học học tập và phát triển con người trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo và xã hội số.

Bởi suy cho cùng, công nghệ có thể được mua, thiết bị có thể được nhập khẩu, nhưng năng lực sáng tạo và chiều sâu tri thức của một quốc gia thì phải được hình thành từ chính hệ thống giáo dục và khoa học của quốc gia đó.

Khi khoa học cơ bản được đặt đúng vị trí

Nhìn rộng hơn, có thể thấy bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ nói về khoa học cơ bản, mà còn gợi mở một tầm nhìn dài hạn cho tương lai phát triển đất nước.

Đó là tương lai mà Việt Nam không chỉ tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu bằng lao động và gia công, mà bằng chính tri thức, công nghệ, dữ liệu và năng lực sáng tạo của người Việt Nam.

Con đường ấy chắc chắn không dễ và không ngắn. Nhưng nếu khoa học cơ bản được đặt đúng vị trí, được đầu tư đúng tầm, được vận hành trong một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lành mạnh và được nâng đỡ bằng một nền giáo dục chất lượng cao, thì đây sẽ là một trong những nền tảng quan trọng nhất để đất nước tạo nên bước phát triển đột phá trong những thập niên tới.

Võ Văn Minh