Trường đại học phải tham chiếu quốc tế nếu muốn mở ngành mới: Nên hay không?

04/06/2026 06:22
Thúy Hiền

GDVN - Theo TS Nguyễn Trung Nhân, cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn về tiêu chí xác định tính “uy tín” của các trường đại học hoặc hệ thống phân loại ngành đào tạo quốc tế được sử dụng làm căn cứ tham chiếu.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Thông tư ban hành danh mục ngành đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.

Theo dự thảo, một ngành đào tạo chỉ được xem xét đưa vào danh mục khi đáp ứng đồng thời nhiều điều kiện. Trong đó, chương trình đào tạo phải có ít nhất 30% khối lượng kiến thức và kỹ năng chuyên môn cốt lõi khác với ngành gần nhất đã có trong danh mục ngành đào tạo.

Đáng chú ý, dự thảo còn đặt ra yêu cầu về tính tham chiếu quốc tế. Theo đó, ngành đào tạo mới phải đang được triển khai tại ít nhất 10 cơ sở giáo dục đại học có uy tín ở nước ngoài hoặc được ghi nhận trong ít nhất hai hệ thống phân loại ngành đào tạo quốc tế phổ biến nhận được nhiều cơ sở giáo dục đại học sử dụng làm căn cứ tham khảo.

Tiêu chí 30% khác biệt cốt lõi giúp hạn chế mở ngành hình thức, chạy theo xu hướng

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiên Giang cho biết, quy định trong dự thảo Thông tư yêu cầu ngành đào tạo mới phải có ít nhất 30% khối lượng kiến thức, kỹ năng chuyên môn cốt lõi khác với ngành gần nhất sẽ tạo ra tác động khá lớn đến xu hướng mở ngành của các trường đại học hiện nay. Đây được xem là một “hàng rào kỹ thuật” cần thiết nhằm bảo đảm tính thực chất trong phát triển ngành đào tạo.

Trước hết, quy định này góp phần nâng cao chất lượng và tính thực chất trong quá trình phát triển ngành đào tạo mới. Khi yêu cầu chương trình phải có sự khác biệt rõ ràng về chuẩn đầu ra, năng lực nghề nghiệp và cấu trúc kiến thức cốt lõi, các cơ sở giáo dục đại học sẽ có thêm động lực đầu tư nghiên cứu, đổi mới chương trình đào tạo theo hướng chuyên sâu và đáp ứng tốt hơn nhu cầu thực tiễn. Đây cũng là cơ sở để các trường chủ động khảo sát xu hướng thị trường lao động, dự báo nhu cầu nhân lực và bám sát định hướng phát triển khoa học, công nghệ, từ đó xây dựng những ngành đào tạo có giá trị gia tăng và bản sắc riêng.

Thứ hai, quy định này tạo động lực để các cơ sở đào tạo đầu tư phát triển những ngành học thực sự mới, thay vì chủ yếu điều chỉnh tên gọi hoặc bổ sung một số học phần để tạo sự khác biệt. Trong bối cảnh nhiều lĩnh vực mới nổi như trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số hay công nghệ xanh đang thu hút sự quan tâm của người học, yêu cầu tối thiểu 30% khác biệt về kiến thức và kỹ năng chuyên môn sẽ khuyến khích các trường xây dựng chương trình đào tạo có nội dung đặc thù, phản ánh đúng bản chất và yêu cầu của ngành nghề.

Bên cạnh đó, quy định còn góp phần nâng cao tính chuẩn hóa và minh bạch của hệ thống ngành đào tạo. Việc yêu cầu hồ sơ đề xuất ngành mới phải kèm theo báo cáo giải trình về cơ sở khoa học, nhu cầu thực tiễn và mức độ hội nhập quốc tế sẽ giúp quá trình mở ngành được xem xét trên những căn cứ cụ thể, khách quan hơn. Đây là bước đi nhằm bảo đảm các ngành đào tạo mới không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt mà còn phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu nguồn nhân lực trong dài hạn.

pgs-ts-nguyen-trung-cang.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiên Giang. Ảnh: NVCC.

Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu này, các cơ sở giáo dục đại học sẽ cần đầu tư nhiều hơn cho công tác phát triển chương trình, đội ngũ giảng viên, học liệu và điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo. Đặc biệt, với các trường địa phương hoặc có quy mô nhỏ, quá trình chuẩn bị hồ sơ và xây dựng ngành mới có thể đòi hỏi thêm thời gian, nguồn lực và sự hỗ trợ về chuyên môn. Dù vậy, đây cũng là cơ hội để các trường rà soát, định vị thế mạnh riêng và lựa chọn hướng phát triển ngành đào tạo phù hợp với năng lực cũng như nhu cầu của xã hội.

Ngoài ra, việc xác định thế nào là “khác biệt cốt lõi” trong bối cảnh giáo dục đại học hiện nay sẽ gặp không ít thách thức bởi xu hướng phát triển của các ngành đào tạo đang ngày càng mang tính liên ngành, tích hợp và giao thoa mạnh mẽ giữa nhiều lĩnh vực.

“Hiện nay, nhiều ngành mới được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa các ngành truyền thống với công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn hoặc quản trị hiện đại. Chẳng hạn như Kinh tế số, Digital Marketing, Trí tuệ nhân tạo, Logistics và quản lý chuỗi cung ứng hay Công nghệ tài chính (Fintech)… đều có phần nền tảng kiến thức gần với các ngành trước đó nhưng lại được bổ sung thêm các năng lực mới phù hợp với nhu cầu thị trường lao động.

Vì vậy, việc xác định đâu là phần “khác biệt cốt lõi” không đơn thuần chỉ dựa trên tên ngành hay số lượng học phần khác nhau, mà cần đánh giá sâu về chuẩn đầu ra, năng lực nghề nghiệp và định hướng đào tạo của chương trình.

Bên cạnh những tác động tích cực, việc triển khai quy định cũng cần có hướng dẫn cụ thể để bảo đảm tính thống nhất trong thực hiện. Trên thực tế, việc xác định mức độ khác biệt giữa các chương trình đào tạo không phải lúc nào cũng đơn giản, đặc biệt đối với những ngành có nền tảng kiến thức liên ngành hoặc có sự giao thoa cao.

Do đó, cơ quan quản lý cần xây dựng các tiêu chí đánh giá rõ ràng, minh bạch và có tính định lượng phù hợp, giúp các cơ sở đào tạo thuận lợi hơn trong quá trình xây dựng hồ sơ, đồng thời bảo đảm công tác thẩm định được thực hiện khách quan, nhất quán.

Ngoài việc xây dựng chương trình khác biệt, các cơ sở giáo dục đại học còn phải chuẩn bị đồng bộ về đội ngũ giảng viên, học liệu, phòng thí nghiệm, công nghệ đào tạo và hệ sinh thái hợp tác doanh nghiệp để chứng minh năng lực triển khai ngành mới. Đây sẽ là áp lực không nhỏ nhưng đồng thời cũng là động lực để các cơ sở giáo dục đại học nâng cao chất lượng đào tạo và chuyển từ tư duy “mở ngành để tuyển sinh” sang “mở ngành theo nhu cầu phát triển thực chất của xã hội và thị trường lao động”. Nhìn tổng thể, quy định này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng và tính bền vững của hệ thống giáo dục đại học”, Phó Giáo sư Nguyễn Trung Cang cho hay.

pgs-ts-bui-hoai-thang.png
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Thắng - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.

Còn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Thắng - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, yêu cầu chương trình đào tạo phải có ít nhất 30% khối lượng kiến thức, kỹ năng chuyên môn cốt lõi khác biệt so với ngành gần nhất trong danh mục là quy định hợp lý và cần thiết.

“Bản chất của tiêu chí này không dừng lại ở việc kiểm soát hoạt động tuyển sinh hay cách thức đặt tên ngành mà để bảo đảm một ngành đào tạo mới thực sự có nội hàm học thuật riêng và khác biệt rõ ràng so với các ngành đã tồn tại. Con số 30% được xem như một ngưỡng định lượng giúp xác định mức độ khác biệt cần thiết về kiến thức và kỹ năng chuyên môn cốt lõi giữa các ngành đào tạo.

Nếu một chương trình học không có sự khác biệt đáng kể về nội dung cốt lõi thì không nhất thiết phải hình thành một ngành mới. Thay vào đó, cơ sở đào tạo có thể phát triển dưới dạng chuyên ngành, định hướng đào tạo hoặc chương trình đào tạo đặc thù trong khuôn khổ một ngành hiện có.

Bên cạnh yêu cầu về sự khác biệt của chương trình đào tạo, việc mở ngành cần xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động và định hướng phát triển kinh tế - xã hội, qua đó bảo đảm hiệu quả đào tạo cũng như cơ hội việc làm cho người học sau khi tốt nghiệp”, Phó Giáo sư Bùi Hoài Thắng cho hay.

Điều kiện tham chiếu quốc tế khi mở ngành mới cần làm rõ tiêu chí “uy tín”

Điểm c, d, Khoản 1, Điều 6 dự thảo quy định một ngành đào tạo mới được xem xét bổ sung vào Danh mục ngành khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, trong đó: Ngành đào tạo mới đã được đào tạo tại ít nhất 10 cơ sở giáo dục đại học có uy tín ở nước ngoài hoặc được liệt kê trong ít nhất 02 bảng phân loại ngành đào tạo quốc tế phổ biến.

Trường hợp ngành đào tạo phục vụ trực tiếp chiến lược phát triển quốc gia, đào tạo giáo viên, nghệ thuật, thể thao, pháp luật, sức khỏe, an ninh, quốc phòng hoặc ngành mới phát sinh từ nhu cầu thực tiễn trong nước thì được thay thế bằng ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc minh chứng đặc thù về nhu cầu nguồn nhân lực.

Theo Phó Giáo sư Bùi Hoài Thắng, đây là một căn cứ cần thiết nhằm bảo đảm ngành được đề xuất mở mới có cơ sở học thuật rõ ràng, có tính phổ quát nhất định và đã được thừa nhận trong môi trường giáo dục đại học quốc tế. Tiêu chí này góp phần hạn chế việc đề xuất mở các ngành đào tạo mang tính đơn lẻ hoặc thiếu nền tảng khoa học, đồng thời tạo cơ sở tham chiếu để các cơ sở giáo dục đại học trong nước tiếp cận những xu hướng đào tạo đã được kiểm chứng trên thế giới.

Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn trong quá trình hoàn thiện dự thảo về tiêu chí xác định tính “uy tín” của các cơ sở giáo dục đại học hoặc các hệ thống phân loại ngành đào tạo quốc tế được sử dụng làm căn cứ tham chiếu. Vấn đề không đơn giản bởi hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều bảng xếp hạng, hệ thống đánh giá và phân loại khác nhau. Mỗi hệ thống được xây dựng trên những mục tiêu, phương pháp và bộ tiêu chí riêng, do đó việc xác định đâu là hệ thống đủ mức độ uy tín để làm căn cứ tham chiếu có thể dẫn đến những cách hiểu và cách áp dụng khác nhau.

Việc xem xét bổ sung ngành đào tạo mới không chỉ dựa trên hồ sơ đề xuất của cơ sở giáo dục đại học mà còn căn cứ vào kết quả thẩm định của Hội đồng tư vấn danh mục ngành đào tạo và yêu cầu quản lý nhà nước về giáo dục. Điều này tạo ra một cơ chế đánh giá nhiều lớp, bảo đảm các đề xuất mở ngành được xem xét trên cả phương diện chuyên môn lẫn yêu cầu thực tiễn.

Cũng theo Phó Giáo sư Bùi Hoài Thắng, đối với những khái niệm khó lượng hóa hoàn toàn như "uy tín" của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài, vai trò của Hội đồng tư vấn đặc biệt quan trọng. Hội đồng sẽ xem xét các minh chứng, đối chiếu với những hệ thống phân loại, xếp hạng và cơ sở tham chiếu phù hợp để đưa ra đánh giá đối với từng trường hợp cụ thể.

Những vấn đề mang tính chuyên môn sâu nên để Hội đồng tư vấn cân nhắc trên cơ sở chuyên môn và thực tiễn. Dự thảo đã thiết kế được cơ chế thẩm định tương đối hợp lý, vừa bảo đảm có những tiêu chí chung để quản lý, vừa dành không gian cho các hội đồng chuyên môn xem xét, đánh giá những trường hợp đặc thù phát sinh trong thực tiễn.

ts-ng-trung-nhan.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC.

Đồng quan điểm trên, Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, thách thức lớn nhất nằm ở sự khác biệt trong cách tiếp cận giữa hệ thống danh mục ngành đào tạo của Việt Nam và mô hình đào tạo tại nhiều quốc gia trên thế giới.

“Trong khi Việt Nam xây dựng danh mục với các ngành được phân định tương đối cụ thể để phục vụ công tác quản lý nhà nước, nhiều nền giáo dục phát triển trên thế giới lại tổ chức đào tạo theo các nhóm ngành rộng, bên trong cho phép người học lựa chọn nhiều chuyên ngành hoặc định hướng chuyên sâu khác nhau.

Lấy ví dụ với ngành Công nghệ thông tin, nhiều trường đại học trên thế giới chỉ tổ chức đào tạo trong ngành Khoa học máy tính (Computer Science) nhưng trong chương trình đào tạo lại bao gồm nhiều hướng phát triển như Trí tuệ nhân tạo, Kỹ thuật phần mềm, Hệ thống thông tin, Khoa học dữ liệu hay An ninh mạng. Trong khi đó, tại Việt Nam, các lĩnh vực này thường được tách thành những ngành đào tạo độc lập trong danh mục ngành.

Chính vì cách phân loại khác nhau nên việc đối chiếu một ngành đào tạo của Việt Nam với hệ thống ngành đào tạo quốc tế không phải lúc nào cũng tương ứng. Có những ngành ở Việt Nam được xem là một ngành độc lập nhưng ở nước ngoài chỉ là một chuyên ngành hoặc một hướng đào tạo trong một ngành lớn hơn. Đây là điểm cần được xem xét linh hoạt khi áp dụng tiêu chí tham chiếu quốc tế”, Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân nêu.

Từ thực tế đó, Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng trong quá trình thẩm định, cơ quan quản lý cần quan tâm nhiều hơn đến bản chất học thuật, chuẩn đầu ra và nội dung đào tạo của ngành được đề xuất mở mới, thay vì chỉ đối chiếu tên gọi trong danh mục ngành của các quốc gia khác. Điều này sẽ giúp tránh tình trạng những ngành có nhu cầu thực tiễn và cơ sở khoa học rõ ràng nhưng gặp khó khăn chỉ vì khác biệt về cách phân loại.

Đối với quy định yêu cầu việc mở ngành phải có căn cứ từ chiến lược phát triển quốc gia, nhu cầu của bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân đánh giá đây là một điểm tích cực của dự thảo bởi nó thể hiện định hướng gắn kết chặt chẽ hơn giữa giáo dục đại học với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Thúy Hiền