Trường đại học đào tạo khoa học cơ bản đề xuất cơ chế giữ chân nhân tài

12/06/2026 06:22
ĐÀO HIỀN

GDVN - Việc xây dựng cơ chế riêng để hỗ trợ đào tạo, đãi ngộ và tạo môi trường phát triển cho nhân tài khoa học cơ bản được xem là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm nền tảng khoa học cho phát triển đất nước.

Khoa học cơ bản được xem là nền tảng của hệ thống tri thức, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra tri thức mới, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia. Tuy nhiên, lĩnh vực này đang đối mặt với không ít thách thức, đặc biệt là bài toán phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Kết luận tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng cần nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò chiến lược của khoa học cơ bản, nhất là khoa học xã hội và nhân văn trong xây dựng thể chế, phát triển văn hóa, con người và bảo đảm ổn định xã hội.

Bên cạnh đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng chỉ ra thực trạng nhiều ngành khoa học cơ bản hiện đang gặp khó khăn trong tuyển sinh, đào tạo sau đại học và phát triển đội ngũ nghiên cứu kế cận. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp đủ mạnh nhằm thu hút người học, bồi dưỡng nhân tài và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của khoa học cơ bản trong thời gian tới. [1]

Muốn có đột phá công nghệ, không thể thiếu nền tảng khoa học cơ bản

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, khoa học cơ bản là nền tảng của năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. Những công nghệ đang dẫn dắt thế giới hiện nay như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, vật liệu mới hay công nghệ sinh học đều được xây dựng trên các tri thức nền tảng của toán học, vật lý, hóa học và các ngành khoa học cơ bản khác.

Theo thầy Vũ, việc các ngành khoa học cơ bản chưa thu hút được đông đảo người học không phải vì thiếu vai trò hay cơ hội phát triển, mà do người học chưa nhìn thấy lộ trình nghề nghiệp đủ rõ ràng và hấp dẫn.

Trên thực tế, sự phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực công nghệ, tài chính, logistics hay kỹ thuật ứng dụng đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm với mức thu nhập rõ nét ngay sau tốt nghiệp, khiến người học có xu hướng ưu tiên lựa chọn. Trong khi đó, các ngành khoa học cơ bản thường đòi hỏi quá trình đào tạo dài hơn, người học cần tiếp tục theo đuổi bậc học cao để phát huy năng lực nghiên cứu.

Tuy nhiên, cơ chế đầu tư, đãi ngộ, môi trường nghiên cứu và cơ hội nghề nghiệp hiện nay vẫn chưa đủ sức cạnh tranh để thu hút những học sinh xuất sắc.

Bên cạnh đó, hệ sinh thái nghiên cứu khoa học cơ bản của Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Số lượng trung tâm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm hiện đại và các chương trình nghiên cứu dài hạn còn hạn chế, khiến nhiều học sinh và phụ huynh chưa nhìn thấy rõ triển vọng phát triển khi theo đuổi lĩnh vực này.

Đồng thời, việc dạy và học khoa học ở bậc phổ thông vẫn chủ yếu hướng đến mục tiêu thi cử, trong khi các hoạt động trải nghiệm nghiên cứu và khám phá khoa học chưa thực sự phổ biến. Điều này khiến nhiều học sinh chưa nhận thức đầy đủ giá trị của tư duy khoa học cũng như vai trò nền tảng của khoa học cơ bản đối với các công nghệ chiến lược trong tương lai.

691125573-1868495194015054-4809163614491458197-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.

Cùng bàn về vấn đề này, Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thị Phương Lan - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho rằng, việc nhìn nhận đúng vai trò chiến lược của khoa học cơ bản đã chạm đến trăn trở của nhiều cơ sở đào tạo trong nhiều năm qua. Đây không chỉ là một định hướng chính sách mà còn là bài toán chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước.

Theo cô Lan, hiện nay, dưới tác động của thị trường lao động và nhận thức xã hội, nhiều người học có xu hướng lựa chọn các ngành kỹ thuật, công nghệ hoặc kinh doanh do có lộ trình nghề nghiệp rõ ràng và cơ hội việc làm dễ nhận thấy hơn. Trong khi đó, các ngành khoa học cơ bản chủ yếu trang bị cho người học nền tảng tri thức, tư duy phân tích, tư duy phản biện và năng lực nghiên cứu chuyên sâu. Những giá trị này mang tính dài hạn và khó được lượng hóa ngay bằng thu nhập hay vị trí việc làm sau tốt nghiệp.

Bên cạnh đó, nhận thức phổ biến về cơ hội nghề nghiệp của nhóm ngành này chưa thực sự đầy đủ. Không ít phụ huynh và người học vẫn cho rằng đây là nhóm ngành thiên về lý thuyết, khó tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp.

Tuy nhiên, theo khảo sát của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, sinh viên tốt nghiệp của trường hiện đang làm việc trong 16/22 lĩnh vực kinh tế theo hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, tập trung ở các lĩnh vực hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ, hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo.

Thực tế này cho thấy thách thức không nằm ở việc thiếu cơ hội việc làm, mà ở chỗ giá trị, vai trò và phạm vi đóng góp của các ngành khoa học xã hội và nhân văn vẫn chưa được nhận diện đầy đủ trong nhận thức xã hội.

Thứ hai là vấn đề về rào cản cơ chế, chính sách và môi trường phát triển. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thị Phương Lan, trong bối cảnh tự chủ đại học, nhiều cơ sở đào tạo phải nỗ lực duy trì những ngành học có quy mô tuyển sinh nhỏ nhưng giữ vai trò chiến lược đối với quốc gia. Tuy nhiên, các chính sách về đầu tư, học bổng, hỗ trợ tài chính, phát triển đội ngũ kế cận cũng như môi trường nghiên cứu và chế độ đãi ngộ dành cho các nhà khoa học vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

"Nếu thiếu môi trường học thuật hiện đại, cơ hội phát triển nghề nghiệp và chính sách đãi ngộ phù hợp, sẽ rất khó thu hút những người trẻ xuất sắc lựa chọn con đường nghiên cứu và giảng dạy", cô Lan nhấn mạnh.

07559745.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thị Phương Lan - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.

Cần một cơ chế đủ mạnh để thu hút, giữ chân người tài

Để giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực và bảo đảm sự phát triển bền vững của các ngành khoa học cơ bản, nhiều ý kiến cho rằng cần có những cơ chế đầu tư và hỗ trợ mang tính đặc thù.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thị Phương Lan, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương quan trọng nhằm khẳng định vai trò của khoa học cơ bản, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn. Đặc biệt, những chỉ đạo gần đây của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thể hiện tầm nhìn chiến lược đối với lĩnh vực này.

Tuy nhiên, theo cô Lan, trong khi các lĩnh vực công nghệ chiến lược và chuyển đổi số đang được đầu tư mạnh mẽ để phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, các ngành khoa học cơ bản vẫn cần những chính sách đủ mạnh và đủ dài hạn để tạo chuyển biến thực chất.

Từ thực tiễn hiện nay, nữ hiệu trưởng đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết, cần xây dựng các chương trình quốc gia đặt hàng đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học đối với các ngành khoa học cơ bản. Đồng thời có cơ chế học bổng, hỗ trợ tài chính và sử dụng nhân lực đối với những lĩnh vực quan trọng nhưng khó thu hút người học.

Thứ hai, cần đầu tư phát triển các trung tâm nghiên cứu mạnh, xây dựng môi trường học thuật có sức cạnh tranh, tạo điều kiện để các nhà khoa học được tiếp cận các quỹ nghiên cứu ổn định, cơ hội hợp tác quốc tế và cơ chế đánh giá dựa trên chất lượng, sáng tạo và đóng góp thực chất.

Thứ ba, cần xem phát hiện và bồi dưỡng nhân tài là một quá trình liên thông từ phổ thông đến sau đại học. Việc dạy học cần tăng cường trải nghiệm, nghiên cứu thực tiễn để khơi dậy niềm yêu thích khoa học. Các trường đại học cần tham gia sớm vào quá trình phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu thông qua các chương trình học thuật và nghiên cứu chuyên sâu.

vien-te-bao-goc.jpg
Những công nghệ đang dẫn dắt thế giới hiện nay đều được xây dựng trên các tri thức khoa học cơ bản. Ảnh minh họa: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Bàn về giải pháp thu hút sinh viên giỏi theo đuổi khoa học cơ bản, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thị Phương Lan cho rằng cần giải quyết đồng thời ba bài toán: bảo đảm điều kiện tài chính, tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp và xây dựng lộ trình việc làm rõ ràng cho người học.

Theo đó, chính sách hỗ trợ không nên chỉ dừng ở miễn giảm học phí mà cần bao gồm học bổng, hỗ trợ sinh hoạt phí, kinh phí nghiên cứu và tham gia các hoạt động học thuật trong nước, quốc tế. Đây là điều kiện quan trọng để đào tạo đội ngũ chuyên gia và nhà khoa học trẻ chất lượng cao.

Dẫn chứng từ thực tiễn, cô Lan cho biết, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang triển khai các chương trình học bổng gắn với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho các ngành khoa học cơ bản. Mức hỗ trợ dành cho nghiên cứu sinh có thể lên tới 560 triệu đồng trong tối đa 3 năm, trong khi học viên cao học tập trung được hỗ trợ tới 160 triệu đồng.

Nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn như Lịch sử, Địa lý học, Nhân học, Dân tộc học, Hán Nôm, Khảo cổ học hay Tôn giáo học cũng đang được hỗ trợ học phí để thu hút người học.

Tuy nhiên, theo nữ hiệu trưởng, hỗ trợ tài chính mới chỉ là điều kiện cần. Quan trọng hơn là phải xây dựng được một hệ sinh thái nghề nghiệp để người học nhìn thấy tương lai của mình. Theo đó, cần có cơ chế đặt hàng đào tạo và sử dụng nhân lực đối với các ngành khoa học cơ bản, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm trong các viện nghiên cứu, trường đại học, cơ quan hoạch định chính sách, thiết chế văn hóa, bảo tàng, thư viện, trung tâm lưu trữ và các ngành công nghiệp văn hóa, sáng tạo.

Đối với lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, cô Lan cho rằng cần có chính sách đặc thù bởi đây là lĩnh vực trực tiếp góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ, tri thức bản địa và bản sắc dân tộc. Nhiều ngành có ý nghĩa chiến lược nhưng quy mô tuyển sinh nhỏ, khả năng tự chủ tài chính hạn chế nên rất cần sự đầu tư ổn định, dài hạn từ Nhà nước.

Bên cạnh đó, cần có cơ chế phát hiện, bồi dưỡng các nhà nghiên cứu trẻ xuất sắc từ sớm, đồng thời giao những nhiệm vụ nghiên cứu dài hạn về văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam và các vấn đề liên quan đến phát triển bền vững, an ninh văn hóa, an ninh con người.

Đối với đội ngũ nghiên cứu, các trường đại học và viện nghiên cứu cần được trao quyền tự chủ cao hơn trong đánh giá, sử dụng nhân lực. Những nhà khoa học có năng lực nổi trội cần được tạo điều kiện tập trung cho nghiên cứu chuyên sâu, xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh và từng bước hình thành các trường phái học thuật mang dấu ấn Việt Nam.

"Sự phát triển của khoa học cơ bản thực chất là đầu tư cho tương lai của quốc gia. Muốn có những công trình khoa học lớn, trước hết phải có những con người được tạo điều kiện phát triển và có thể sống được bằng đam mê nghiên cứu của mình", cô Lan nhấn mạnh.

Trong khi đó, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ, cần có những chính sách đặc thù cho khoa học cơ bản, song không nên nhìn lĩnh vực này như một cấu phần tách rời khỏi hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo thầy, kinh nghiệm quốc tế cho thấy những quốc gia có nền khoa học cơ bản phát triển mạnh thường đồng thời sở hữu hệ sinh thái khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo năng động. Một mặt, khoa học công nghệ đặt ra những bài toán mới cho nghiên cứu cơ bản; mặt khác, chính các thành tựu của khoa học cơ bản lại tạo nền tảng cho những đột phá công nghệ trong tương lai.

Vì vậy, thay vì đặt khoa học cơ bản và khoa học công nghệ trong mối quan hệ ưu tiên hay lựa chọn, cần xây dựng cơ chế để hai lĩnh vực này phát triển song hành, bổ trợ lẫn nhau.

Trong giai đoạn hiện nay, theo thầy Vũ, điều quan trọng không phải là tạo ra quá nhiều cơ chế riêng lẻ mà là đầu tư bài bản, dài hạn cho các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ lượng tử, năng lượng mới hay công nghệ sinh học. Khi các lĩnh vực này phát triển, nhu cầu về nguồn nhân lực và nghiên cứu trong các ngành toán học, vật lý, hóa học cùng các ngành khoa học cơ bản khác cũng sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ.

Bên cạnh đó, Nhà nước vẫn cần có những chính sách mang tính dẫn dắt đối với khoa học cơ bản như hỗ trợ học bổng, đào tạo tiến sĩ, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm nghiên cứu xuất sắc và tạo điều kiện để các nhà khoa học trẻ theo đuổi các hướng nghiên cứu dài hạn.

Tuy nhiên, chính sách đầu tư và hỗ trợ chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đi cùng với chiến lược phát triển nguồn nhân lực bài bản. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ, phát triển đội ngũ kế cận cho khoa học cơ bản là một quá trình dài hạn, đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ từ giáo dục phổ thông đến đại học và sau đại học. Quan trọng hơn cả là tạo dựng môi trường để người trẻ nhìn thấy cơ hội phát triển, được nuôi dưỡng đam mê khoa học và có điều kiện phát huy năng lực nghiên cứu.

Ở bậc phổ thông, cần chuyển mạnh từ việc truyền thụ kiến thức sang phát triển tư duy khoa học, tư duy phản biện và năng lực khám phá. Học sinh cần được tiếp cận khoa học như một quá trình đặt câu hỏi, tìm kiếm lời giải và sáng tạo tri thức, thay vì chỉ học để phục vụ các kỳ thi. Đồng thời, cần tăng cường sự tham gia của các trường đại học và viện nghiên cứu trong hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp và phát hiện học sinh có năng khiếu nghiên cứu.

Ở bậc đại học, bên cạnh đào tạo kiến thức chuyên môn, cần tạo điều kiện để sinh viên tham gia nghiên cứu từ sớm, được làm việc trong các nhóm nghiên cứu và tiếp cận những bài toán khoa học thực tiễn. Theo thầy Vũ, việc xây dựng các trường đại học nghiên cứu mạnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây chính là nơi đào tạo và hình thành đội ngũ nhà khoa học tương lai.

gygbsrdltjqugs-4f0xul3sc.png
Cần xây dựng cơ chế để hai lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học công nghệ phát triển song hành, bổ trợ lẫn nhau. Ảnh minh họa: Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TPHCM.

Để giữ chân những người trẻ có năng lực tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu, cần có các chính sách đồng bộ về học bổng, đào tạo sau đại học, cơ hội hợp tác quốc tế, điều kiện làm việc và lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng cho các nhà khoa học trẻ.

“Trong bối cảnh Việt Nam đang ưu tiên phát triển các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ lượng tử, năng lượng mới và công nghệ sinh học, nguồn nhân lực khoa học cơ bản cần được xem là nền tảng của chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.

Khi người học nhìn thấy rõ vai trò, cơ hội và triển vọng phát triển của mình, khoa học cơ bản sẽ có thêm động lực để thu hút và hình thành đội ngũ kế cận chất lượng cao cho tương lai”, thầy Vũ nhấn mạnh.

Tài liệu tham khảo:

[1]: https://baochinhphu.vn/ket-luan-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-tai-cuoc-hop-cho-chu-truong-ve-cong-tac-nghien-cuu-khoa-hoc-co-ban-102260525155126367.htm

ĐÀO HIỀN