Việc xét duyệt, công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư vẫn luôn là chủ đề thu hút sự quan tâm của xã hội bởi gắn trực tiếp với chất lượng và chuẩn mực của đội ngũ khoa học.
Thời gian qua, cơ chế xét, công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư theo Quyết định số 37/2018/QĐ-TTg đã góp phần định hình một khung tiêu chuẩn học thuật tương đối thống nhất. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, khi các chuẩn mực học thuật quốc tế liên tục vận động và nâng cao, cơ chế này cũng bộc lộ những khoảng trễ nhất định. Từ đó, đặt ra yêu cầu cần tiếp tục rà soát, điều chỉnh theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế, bảo đảm thực chất trong đánh giá, công nhận các chức danh học thuật.
Thực tế cho thấy, một số nội dung như việc trao quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục đại học trong xét, công nhận chức danh học thuật, hay tiêu chí lựa chọn thành viên hội đồng giáo sư;... đang nhận được nhiều sự quan tâm, chia sẻ từ chuyên gia.
Đơn cử, trước đề xuất đẩy mạnh tự chủ trong xét duyệt, bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư tại các cơ sở đào tạo, chuyên gia cho rằng đây là bước chuyển đáng chú ý, tiệm cận với thông lệ quốc tế, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục.
Bảo đảm vừa trao quyền, vừa giữ được cơ chế giám sát cần thiết
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Chí Bửu – Chủ tịch Hội đồng Giáo sư liên ngành Nông nghiệp - Lâm nghiệp năm 2023, nguyên Viện trưởng Viện Lúa Đồng bằng Sông Cửu Long cho rằng, việc trao quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo trong xét duyệt, bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư là phù hợp với xu hướng chung, khắc phục những bất cập của quy trình xét duyệt trước đây vốn còn phức tạp, nhiêu khê.
Đối với các cơ sở chưa đủ điều kiện thành lập hội đồng giáo sư thì có thể tính đến phương án liên kết, phối hợp với các đơn vị khác. Và khi trao quyền cho cơ sở giáo dục thì việc Nhà nước chuyển sang vai trò kiểm tra, giám sát và xử lý khiếu nại, tố cáo là hướng đi hợp lý, bảo đảm vừa trao quyền, vừa giữ được cơ chế giám sát cần thiết.
Cùng chia sẻ, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hải Đăng – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội nhận định, việc trao quyền nhiều hơn cho các cơ sở giáo dục đại học là bước tiến lớn, phù hợp với xu thế quốc tế; tạo điều kiện để các trường chủ động trong xây dựng, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, qua đó góp phần thúc đẩy mô hình đại học nghiên cứu tại Việt Nam.
Việc bảo đảm chất lượng giáo sư, phó giáo sư là yếu tố quyết định uy tín học thuật và thương hiệu của mỗi cơ sở. Do đó, quy trình xét duyệt cần được thẩm định, hậu kiểm chặt chẽ, bảo đảm các tiêu chí tối thiểu được thực hiện nghiêm túc, tránh tình trạng hợp thức hóa hồ sơ trong khi năng lực thực chất chưa tương xứng.
Đáng chú ý, khi cơ sở giáo dục được tự chủ trong xét duyệt, bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư, thì lựa chọn thành viên hội đồng cũng cần quan tâm đến chỉ số H-index (hay chỉ số H), hệ số ảnh hưởng (IF),... của thành viên hội đồng.
Về nội dung này, Phó Giáo sư Đăng cho rằng, trong bối cảnh khoa học Việt Nam ngày càng tiệm cận với thế giới, việc tham chiếu các chỉ số như H-index, IF,... sẽ phù hợp, và là căn cứ quan trọng giúp nhận diện năng lực học thuật của nhà khoa học khi tham gia hội đồng, đặc biệt trong đánh giá hồ sơ ứng viên.
Trong khi đó, Giáo sư Bửu nhấn mạnh, việc lựa chọn thành viên hội đồng cần đặt trọng tâm vào tính hàn lâm của công trình nghiên cứu, chất lượng bài báo quốc tế, kinh nghiệm hướng dẫn nghiên cứu sinh, cũng như uy tín học thuật của nhà khoa học. Các chỉ số H-index (hay chỉ số H), hệ số ảnh hưởng (IF) có thể được sử dụng để tham khảo, phản ánh mức độ ảnh hưởng và uy tín khoa học trong quá trình lựa chọn thành viên hội đồng.
Ngoài chỉ số khoa học ảnh hưởng, những tiêu chuẩn khác để lựa chọn thành viên hội đồng xét bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư của cơ sở giáo dục đại học cũng nhận được nhiều ý kiến trao đổi, đặc biệt liên quan đến tính khả thi và mức độ phù hợp với thực tiễn.
Chia sẻ về nội dung này, Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Chí Bửu nhìn nhận, việc lựa chọn thành viên hội đồng giáo sư cấp cơ sở ở một số nơi thời gian qua còn thiếu chặt chẽ. Do đó, ngay từ khâu đề xuất danh sách đã cần bảo đảm những người tham gia phải thực sự có uy tín, năng lực và đạo đức nghề nghiệp. Đồng thời, cần tăng cường minh bạch, công khai lý lịch khoa học của thành viên hội đồng giáo sư.
Ngoài ra, Giáo sư Bùi Chí Bửu cũng cho rằng, nếu như yêu cầu thành viên hội đồng phải có công bố khoa học trong một thời gian nhất định thì sẽ chưa thật sự hợp lý. Bởi, thực tế nhiều nhà khoa học, giáo sư, phó giáo sư giàu kinh nghiệm đã nghỉ hưu hoặc không còn công bố thường xuyên nhưng vẫn có năng lực chuyên môn sâu, từng chủ trì đề tài lớn và hướng dẫn nghiên cứu sinh, nhưng lại khó đáp ứng. Chính vì thế, chúng ta cần có sự linh hoạt hơn trong việc huy động các chuyên gia giàu kinh nghiệm tham gia hội đồng, đồng thời có thể xem xét mở rộng thành phần từ bên ngoài cơ sở giáo dục, tùy theo quyết định và trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục. Và việc không quy định cứng về tỷ lệ thành viên ngoài cơ sở đào tạo cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các trường trong quá trình thành lập hội đồng.
Mặt khác, Phó Giáo sư Nguyễn Hải Đăng cho rằng, cần làm rõ hơn yêu cầu về năng lực của thành viên hội đồng xét duyệt, nhằm bảo đảm tương xứng với yêu cầu đánh giá ứng viên, tránh phát sinh những tranh luận về tính khách quan, minh bạch.
Việc không quy định bắt buộc thành viên hội đồng phải thuộc chính cơ sở đào tạo sẽ giúp cho các trường hoàn toàn có thể chủ động đề xuất nhân sự phù hợp, kể cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, sẽ là khó khăn trong lựa chọn thành viên hội đồng nếu yêu cầu thành viên phải có công bố khoa học trong khoảng thời gian nhất định nào đó, và “sẽ làm dấy lên băn khoăn về năng lực thực chất của một số thành viên hội đồng khi tham gia đánh giá những ứng viên có hồ sơ khoa học mạnh, nhiều công bố quốc tế chất lượng”, thầy Đăng nói.
Cũng theo thầy Đăng, trên thế giới, các cơ sở giáo dục đại học không ấn định cụ thể tỷ lệ cơ cấu bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư theo nhóm ngành, gắn với tổng số giảng viên có trình độ tiến sĩ. Do đó, chúng ta cần tiệm cận theo chuẩn quốc tế.
"Tại nhiều quốc gia, việc xác định tỷ lệ giáo sư, phó giáo sư thường do các trường đại học tự chủ quyết định, hoặc phụ thuộc vào nhu cầu của thị trường lao động học thuật và nguồn lực tài chính của từng cơ sở, không ấn định bằng quy định mang tính pháp lý.
Với một số trường hợp, việc giới hạn số lượng chỉ áp dụng với vị trí cao nhất là giáo sư, đặc biệt khi vị trí này gắn với nguồn chi trả từ ngân sách nhà nước. Trong khi đó, nhiều đại học hàng đầu thế giới có tỷ lệ giáo sư trên tổng số tiến sĩ cao hơn đáng kể, bởi họ có đủ nguồn lực để thu hút và đãi ngộ đội ngũ học giả chất lượng cao.
Việc áp dụng tỷ lệ cứng cũng có thể gây khó khăn đối với một số ngành đặc thù có quy mô tiến sĩ thấp. Chính vì thế, nếu đưa ra tỷ lệ cơ cấu bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư thì cần làm rõ cơ sở, cũng như xem xét khả năng gắn với mức độ tự chủ hoặc chất lượng của từng cơ sở giáo dục", thầy Đăng chia sẻ.
Đồng quan điểm, Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Chí Bửu bày tỏ quan điểm không đồng tình nếu chúng ta đặt ra tỷ lệ cứng trong bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư. Bởi, thầy cho rằng không có đủ căn cứ thuyết phục để lượng hóa đội ngũ học thuật bằng tỷ lệ.
“Nhân tài không thể được xác định theo các giới hạn mang tính cơ học”, Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Chí Bửu chia sẻ.
Lo ngại về chất lượng đội ngũ nếu không được kiểm soát chặt chẽ
Giới chuyên gia cũng đặc biệt quan tâm đến tiêu chuẩn ứng viên giáo sư, phó giáo sư trong bối cảnh giáo dục hội nhập quốc tế. Trước hết, Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Chí Bửu nhấn mạnh vai trò của công bố khoa học trong đánh giá năng lực học thuật.
“Các nghiên cứu sinh có năng lực thường tìm cơ hội phát triển ở nước ngoài, và những công trình chất lượng cao chủ yếu được công bố trên các tạp chí quốc tế. Do vậy, việc đặt ra yêu cầu về công bố khoa học trong xét tiêu chuẩn ứng viên giáo sư, phó giáo sư là cần thiết, gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng nghiên cứu và đóng góp thực chất cho phát triển.
Đồng thời, cần chú trọng hơn đến các chỉ số ảnh hưởng, bởi thực tế vẫn còn tình trạng một số trường hợp được công nhận chức danh nhưng chưa tạo được dấu ấn rõ nét về tác động khoa học”, Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Chí Bửu bày tỏ.
Còn theo Phó Giáo sư Nguyễn Hải Đăng, tiêu chuẩn đánh giá ứng viên giáo sư, phó giáo sư cần được siết chặt hơn so với hiện hành, nhưng một số tiêu chuẩn cũng có thể nới lỏng. Chẳng hạn, cần làm rõ cơ chế quy đổi số giờ giảng dạy trực tiếp, giảm trừ đối với giảng viên thỉnh giảng, đồng cơ hữu hoặc người giữ chức vụ quản lý.
“Nên quy định chi tiết hơn về cách tính giờ giảng dạy trực tiếp, bao gồm việc áp dụng đối với giảng viên cơ hữu, đồng cơ hữu và thỉnh giảng, cũng như cơ chế giảm trừ đối với giảng viên kiêm nhiệm chức vụ quản lý theo các quy định hiện hành.
Ngoài ra, việc xác định chỉ tiêu và tỷ lệ đối với giảng viên cơ hữu, đồng cơ hữu và thỉnh giảng khi tham gia bổ nhiệm chức danh cũng cần được làm rõ, bảo đảm thống nhất với các quy định liên quan như xác định chỉ tiêu tuyển sinh. Nếu không, các cơ sở giáo dục đại học có thể gặp khó khăn trong việc thu hút, sử dụng đội ngũ giảng viên đồng cơ hữu, giảng viên thỉnh giảng hoặc các nhà khoa học đã nghỉ hưu”, thầy Đăng chia sẻ.
Bên cạnh đó, cần xem xét duy trì cơ chế xét đặc cách nhằm tạo điều kiện thu hút kịp thời các nhà khoa học xuất sắc, chuyên gia nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và uy tín học thuật của các trường.
Ghi nhận của phóng viên cho thấy, có một số ý kiến đề xuất tiêu chuẩn công bố khoa học đối với một số lĩnh vực, nhất là khối khoa học xã hội và nhân văn cần được nới lỏng hơn, cho phép tính cả các công bố trong nước được xếp loại. Phó Giáo sư Đăng cho rằng cần cân nhắc kỹ lưỡng. Bởi có thể dẫn đến lo ngại về chất lượng đội ngũ nếu không kiểm soát chặt chẽ, nhất là trong bối cảnh một số ngành có thể dễ dàng đáp ứng các tiêu chí định lượng này. Bên cạnh đó, khi đã trao quyền cho cơ sở giáo dục, thì việc tiếp tục sử dụng danh mục công trình do Hội đồng Giáo sư Nhà nước công nhận cũng cần được xem xét về tính pháp lý.
Chia sẻ thêm về một số ý kiến cho rằng cần chuyển cách tiếp cận trong bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư từ “đạt chuẩn” sang gắn với vị trí việc làm và nhu cầu sử dụng thực tế của cơ sở giáo dục đại học, chuyên gia cho rằng hợp lý, phù hợp với định hướng của Luật Giáo dục đại học năm 2025 khi xác định giáo sư, phó giáo sư là các vị trí học thuật cao nhất trong nhà trường.
Phó Giáo sư Nguyễn Hải Đăng chia sẻ, việc gắn chức danh với vị trí việc làm sẽ góp phần làm rõ vai trò, chức năng của đội ngũ này trong hệ thống, đồng thời không làm xáo trộn việc quy đổi tương đương với các chức danh như giảng viên cao cấp hay nghiên cứu viên cao cấp. Trên thực tế, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã xây dựng cơ cấu vị trí việc làm tương đối rõ ràng, do đó việc chuyển đổi sang cơ chế bổ nhiệm theo vị trí không gây tác động lớn.
Tuy nhiên, Giáo sư Bùi Chí Bửu cho rằng, các cơ sở đào tạo cần rà soát, hoàn thiện lại hệ thống vị trí việc làm, đặc biệt là mô tả cụ thể đối với chức danh giáo sư, phó giáo sư nhằm bảo đảm việc bổ nhiệm đúng nhu cầu và đúng tiêu chuẩn. Quá trình xây dựng, trình và phê duyệt lại các vị trí việc làm có thể mất nhiều thời gian trong giai đoạn đầu.
Còn việc làm rõ cơ chế công nhận tương đương giữa các chức danh cũng sẽ là yếu tố quan trọng, giúp quá trình bổ nhiệm và công nhận giáo sư, phó giáo sư diễn ra thuận lợi hơn.