Trao quyền xét giáo sư, phó giáo sư cho CSGDĐH là phù hợp xu thế quản trị đại học hiện đại

15/06/2026 08:24
Doãn Nhàn
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Trong bối cảnh tự chủ đại học đang được thúc đẩy mạnh mẽ, cơ chế xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư tiếp tục nhận được nhiều sự quan tâm.

Sau gần nửa thế kỷ thực hiện theo mô hình Hội đồng Giáo sư nhà nước và các Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành, một số ý kiến đề xuất chuyển sang cơ chế để các cơ sở giáo dục đại học trực tiếp tuyển chọn, bổ nhiệm và quản lý đội ngũ học thuật.

Trao quyền xét chọn giáo sư, phó giáo sư: Cần chuyển từ cơ chế công nhận sang trách nhiệm học thuật

31a8b52d-c628-4549-85c9-e1411dc7e1de.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Dũng đang nghiên cứu tại phòng thí nghiệm trọng điểm của Khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Trao đổi với phóng viên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Dũng - Trưởng khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng việc trao quyền cho các cơ sở giáo dục đại học trực tiếp xét chọn, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư là hướng đi phù hợp với xu thế quản trị đại học hiện đại và lộ trình tự chủ đại học tại Việt Nam.

Theo thầy Dũng, cơ chế xét công nhận giáo sư, phó giáo sư thông qua Hội đồng Giáo sư nhà nước thời gian qua đã đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chuẩn mực học thuật thống nhất, bảo đảm uy tín của chức danh khoa học trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, mô hình này cũng đặt ra một số vấn đề khi quyền đánh giá, công nhận và quyền sử dụng đội ngũ học thuật chưa thực sự gắn kết với nhu cầu phát triển riêng của từng cơ sở giáo dục đại học.

“Nếu được trao quyền, trách nhiệm của các trường sẽ được nâng lên đáng kể. Nhà trường không chỉ là nơi sử dụng đội ngũ giáo sư, phó giáo sư mà còn trực tiếp chịu trách nhiệm về chất lượng đội ngũ do mình bổ nhiệm”, Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng nhận định.

Theo thầy Dũng, việc trao quyền cho các trường sẽ giúp quá trình bổ nhiệm gắn chặt hơn với chiến lược phát triển của từng cơ sở giáo dục đại học, từ đó lựa chọn được những nhà khoa học phù hợp với định hướng đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, cơ chế này có thể tạo động lực cạnh tranh học thuật giữa các trường. Uy tín của mỗi cơ sở giáo dục đại học sẽ được thể hiện thông qua chất lượng đội ngũ giáo sư, phó giáo sư mà trường xây dựng, qua đó thúc đẩy các trường phải thiết lập những tiêu chuẩn đánh giá nghiêm túc, tiệm cận với chuẩn mực quốc tế.

Một lợi ích khác được thầy Dũng nhấn mạnh là khả năng thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao. Khi quyền bổ nhiệm gắn với quyền sử dụng và chính sách đãi ngộ, các trường sẽ có động lực đầu tư cho nghiên cứu khoa học, xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh, hỗ trợ công bố quốc tế, đào tạo tiến sĩ và thu hút nhân tài.

Tuy nhiên, theo Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng, trao quyền tự chủ không đồng nghĩa với việc Nhà nước rút khỏi vai trò quản lý. Để cơ chế này vận hành hiệu quả, Nhà nước vẫn cần xây dựng khung tiêu chuẩn tối thiểu chung, đồng thời thực hiện cơ chế giám sát, hậu kiểm chặt chẽ nhằm bảo đảm chất lượng chức danh giáo sư, phó giáo sư và tránh tình trạng mỗi trường áp dụng một chuẩn khác nhau.

“Tự chủ phải đi đôi với trách nhiệm giải trình và sự minh bạch trong toàn bộ quy trình xét chọn, bổ nhiệm”, thầy Dũng nhấn mạnh.

Cần bảo đảm liêm chính khoa học khi thay đổi cơ chế

Giáo sư, Tiến sĩ Võ Văn Sen - Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư liên ngành Sử học - Khảo cổ học - Dân tộc học (giai đoạn 2019-2025). Ảnh: USSH-VNUHCM
Giáo sư, Tiến sĩ Võ Văn Sen - Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư liên ngành Sử học - Khảo cổ học - Dân tộc học (giai đoạn 2019-2025). Ảnh: USSH-VNUHCM

Giáo sư, Tiến sĩ Võ Văn Sen - Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư liên ngành Sử học - Khảo cổ học - Dân tộc học (giai đoạn 2019-2025) cũng cho rằng đây là hướng đi phù hợp với thông lệ quốc tế và xu thế tự chủ đại học.

Theo Giáo sư Võ Văn Sen, ở nhiều nền giáo dục phát triển, giáo sư, phó giáo sư không đơn thuần là một danh hiệu khoa học mà gắn với vị trí, chức vụ nghề nghiệp trong một cơ sở giáo dục đại học cụ thể.

“Giáo sư gắn với trường đại học. Một trường có thể bổ nhiệm một người là giáo sư của trường mình, nhưng khi người đó chuyển sang một trường khác, trường mới có thể tiếp tục bổ nhiệm họ ở vị trí giáo sư hoặc chỉ là phó giáo sư, tùy thuộc vào nhu cầu, chiến lược phát triển và đánh giá của cơ sở đó”, thầy Sen phân tích.

Theo thầy, việc trao quyền cho các trường có thể giúp quá trình lựa chọn đội ngũ học thuật gắn chặt hơn với nhu cầu thực tế của từng cơ sở. Các trường sẽ chủ động lựa chọn những nhà khoa học phù hợp với định hướng phát triển ngành đào tạo, nghiên cứu và vị trí việc làm thay vì chỉ tập trung vào việc công nhận một danh hiệu chung.

Tuy nhiên, Giáo sư Võ Văn Sen cho rằng trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc chuyển đổi cần có lộ trình phù hợp. Bởi hệ thống giáo dục đại học trong nước chưa có truyền thống khoa học lâu dài như nhiều quốc gia phát triển, đồng thời năng lực học thuật, quản trị giữa các trường còn có sự khác biệt.

Theo vị giáo sư, trong giai đoạn chuyển tiếp, việc kết hợp giữa chuẩn chung của Nhà nước và quyền tự chủ của các trường là cần thiết. Khi hệ thống đại học phát triển hơn, các trường có năng lực học thuật và cơ chế quản trị hoàn thiện hơn, quyền bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư có thể được giao đầy đủ cho các cơ sở giáo dục đại học.

fa49b992-1008-4963-975c-3640a436f01b.png
Ảnh minh họa: AI

Trong khi đó, một thành viên Hội đồng Giáo sư ngành cho rằng, mỗi mô hình đều có ưu điểm và hạn chế riêng. Dù lựa chọn cơ chế nào, yếu tố quyết định vẫn là năng lực và tính liêm chính của những người tham gia đánh giá.

“Muốn bảo đảm chất lượng thì trước hết phải giữ được liêm chính khoa học. Khi bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư, cần căn cứ vào sự phát triển của từng ngành, nhu cầu của nhà trường và năng lực thực chất của ứng viên, chứ không chỉ dựa vào việc đạt đủ các tiêu chí định lượng”, vị này nhấn mạnh.

Theo vị này, nếu chuyển việc xét chọn giáo sư, phó giáo sư về các cơ sở giáo dục đại học, mô hình này sẽ gần với thông lệ quốc tế hơn, khi các trường được quyền lựa chọn và bổ nhiệm những nhà khoa học phù hợp với chiến lược phát triển của mình. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là năng lực đánh giá của từng cơ sở giáo dục đại học.

“Giáo sư, phó giáo sư không chỉ là danh hiệu học thuật mà còn liên quan đến nhiều yếu tố trong hoạt động của trường đại học, trong đó có việc xây dựng đội ngũ, mở ngành và xác định quy mô đào tạo. Nếu thiếu kiểm soát, việc bổ nhiệm có thể bị chi phối bởi những mục tiêu khác ngoài chất lượng học thuật”, ông phân tích.

Nâng chuẩn giáo sư, phó giáo sư theo hướng coi trọng chất lượng nghiên cứu và đóng góp thực tiễn

Theo Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng, các tiêu chí xét công nhận giáo sư, phó giáo sư cần tiếp tục điều chỉnh theo hướng coi trọng hơn những thành tựu nghiên cứu thực chất, thay vì chỉ tập trung vào việc đáp ứng các tiêu chí định lượng. Ảnh minh họa
Theo Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng, các tiêu chí xét công nhận giáo sư, phó giáo sư cần tiếp tục điều chỉnh theo hướng coi trọng hơn những thành tựu nghiên cứu thực chất, thay vì chỉ tập trung vào việc đáp ứng các tiêu chí định lượng. Ảnh minh họa

Theo Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng, khi Việt Nam trao quyền cho các cơ sở giáo dục đại học trong việc xét chọn và bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư thì đồng thời cần nâng cao chuẩn học thuật nhằm bảo đảm chất lượng và uy tín của các chức danh này trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Đối với các tiêu chí xét công nhận giáo sư, phó giáo sư hiện nay theo Quyết định số 37/2018/QĐ-TTg, thầy Dũng cho rằng cần tiếp tục điều chỉnh theo hướng coi trọng hơn những thành tựu nghiên cứu thực chất, thay vì chỉ tập trung vào việc đáp ứng các tiêu chí định lượng.

Cụ thể, đối với chức danh phó giáo sư, thầy Dũng đề xuất ứng viên cần đạt tối thiểu 12 điểm công trình khoa học và có ít nhất 3 bài báo thuộc hệ thống Web of Science (WoS) hoặc Scopus với vai trò tác giả chính.

Đối với chức danh giáo sư, yêu cầu nên được nâng lên mức tối thiểu 24 điểm công trình khoa học và có ít nhất 5 bài báo WoS hoặc Scopus với vai trò tác giả chính.

Theo thầy Dũng, các tiêu chí này nhằm bảo đảm ứng viên thực sự có năng lực nghiên cứu, có khả năng tạo ra những đóng góp khoa học và đủ năng lực dẫn dắt hoạt động học thuật trong lĩnh vực chuyên môn.

Bên cạnh năng lực nghiên cứu cơ bản, tiêu chuẩn Giáo sư cũng cần phản ánh rõ hơn khả năng đổi mới sáng tạo và đóng góp cho xã hội, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học ứng dụng, kỹ thuật và công nghệ.

“Ứng viên giáo sư nên có ít nhất một bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích hoặc một hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được ứng dụng trong thực tiễn, đặc biệt đối với các ngành kỹ thuật, công nghệ và khoa học ứng dụng”, thầy Dũng đề xuất.

Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, khi đánh giá ứng viên cần tập trung vào tổng thể các yếu tố như chất lượng công bố quốc tế, vai trò của tác giả trong công trình, số lượng trích dẫn, ảnh hưởng học thuật, cùng với các thành tựu về sáng chế, chuyển giao công nghệ và đào tạo nghiên cứu sinh.

“Muốn xây dựng đội ngũ giáo sư, phó giáo sư ngang tầm khu vực và quốc tế, cần đi theo hướng nâng chuẩn, coi trọng chất lượng hơn số lượng và đánh giá toàn diện cả năng lực nghiên cứu lẫn đóng góp thực tiễn”, thầy Dũng nhấn mạnh.

Hội đồng xét chọn cần mở rộng thành phần, tăng phản biện độc lập

Khi trao quyền xét chọn và bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư cho các trường đại học, vấn đề đặt ra là làm thế nào để bảo đảm tính khách quan, minh bạch và uy tín của quy trình đánh giá.

Về vấn đề này, Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng cho rằng yếu tố quan trọng nhất là phải xây dựng được cơ chế đánh giá minh bạch, khách quan và gắn với trách nhiệm giải trình.

“Quyền tự chủ càng lớn thì yêu cầu về chất lượng và liêm chính học thuật càng phải cao hơn”, thầy nói.

Theo thầy Dũng, các hội đồng xét chọn giáo sư, phó giáo sư tại trường đại học không nên chỉ bao gồm các thành viên nội bộ mà cần có sự tham gia đáng kể của các chuyên gia bên ngoài.

Vị Trưởng khoa đồng tình với đề xuất mời thành viên ngoài trường tham gia hội đồng và cho rằng tỷ lệ này có thể ở mức khoảng 30-50% tổng số thành viên.

Sự tham gia của các nhà khoa học đến từ các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu hoặc doanh nghiệp ngoài cơ sở đào tạo sẽ góp phần hạn chế tính khép kín, đồng thời nâng cao tính khách quan trong quá trình đánh giá.

Đối với hồ sơ xét chức danh giáo sư, thầy Dũng cho rằng cần có thêm sự tham gia của các chuyên gia quốc tế hoặc những nhà khoa học đầu ngành để thực hiện phản biện độc lập, qua đó giúp quá trình đánh giá tiệm cận hơn với thông lệ quốc tế.

Bên cạnh hội đồng đánh giá, mỗi hồ sơ cần được phản biện kín bởi 2-3 chuyên gia cùng lĩnh vực, trong đó có ít nhất một chuyên gia ngoài cơ sở đào tạo.

Theo thầy Dũng, ý kiến phản biện phải trở thành căn cứ quan trọng trước khi hội đồng xem xét, thảo luận và bỏ phiếu.

Cùng với đó, toàn bộ tiêu chuẩn, quy trình và kết quả xét chọn cần được công khai trên trang thông tin điện tử của nhà trường để cộng đồng học thuật có thể giám sát.

Một yêu cầu quan trọng khác là cần có quy định chặt chẽ về kiểm soát xung đột lợi ích. Những người có quan hệ thân nhân, quan hệ hướng dẫn trực tiếp hoặc có quá trình hợp tác khoa học quá thường xuyên với ứng viên không nên tham gia đánh giá và bỏ phiếu.

Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng cũng lưu ý, khi trao quyền cho các trường, không nên hiểu rằng mọi ứng viên đạt mức tối thiểu đều mặc nhiên được bổ nhiệm.

Theo thầy, việc bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư cần gắn với nhu cầu phát triển của nhà trường, vị trí việc làm và khả năng dẫn dắt học thuật của ứng viên.

“Hội đồng cần trả lời được câu hỏi: Ứng viên có thực sự đủ năng lực trở thành nhà khoa học đầu ngành và có đóng góp cho sự phát triển của nhà trường trong tương lai hay không?”, thầy Dũng đặt vấn đề.

Theo Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng, để bảo đảm tính khách quan và uy tín khi trao quyền xét chọn giáo sư, phó giáo sư cho các cơ sở giáo dục đại học, cần dựa trên bốn yếu tố cốt lõi: tiêu chuẩn cao, hội đồng mở với sự tham gia đáng kể của thành viên ngoài trường, phản biện độc lập và trách nhiệm giải trình công khai.

Đây cũng là những điều kiện quan trọng để quá trình tự chủ đại học thực sự đi cùng với việc nâng cao chất lượng học thuật và vị thế của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.

Cần đánh giá năng lực học thuật liên tục thay vì chỉ công nhận tại một thời điểm

Theo Phó Giáo sư Nguyễn Tấn Dũng, cơ chế xét công nhận giáo sư, phó giáo sư tập trung thông qua Hội đồng Giáo sư Nhà nước đã có những đóng góp quan trọng trong việc hình thành hệ thống tiêu chuẩn học thuật thống nhất trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh tự chủ đại học và hội nhập quốc tế, mô hình này cũng bộc lộ một số hạn chế.

Theo thầy, việc đánh giá hiện nay chủ yếu tập trung vào thành tích khoa học của ứng viên tại một thời điểm, chưa phản ánh đầy đủ quá trình đóng góp học thuật lâu dài. Sau khi được công nhận giáo sư, phó giáo sư, một số nhà khoa học có thể không còn duy trì hoạt động nghiên cứu, trong khi chức danh vẫn được giữ, tạo khoảng cách giữa học hàm và đóng góp thực tế.

Bên cạnh đó, cơ chế hiện hành cũng chưa thực sự thuận lợi trong việc thu hút các nhà khoa học quốc tế. Nhiều học giả đã được bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư tại các trường đại học uy tín trên thế giới nhưng khi về Việt Nam vẫn phải trải qua quy trình xét công nhận trong nước.

Một hạn chế khác là sự chưa thống nhất giữa quyền đánh giá và quyền sử dụng đội ngũ.

“Các trường đại học là nơi trực tiếp sử dụng, giao nhiệm vụ và chịu trách nhiệm về chất lượng đội ngũ học thuật, nhưng hiện chưa được trao đầy đủ quyền quyết định trong tuyển chọn, bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư”, thầy Dũng phân tích.

Theo thầy Dũng, vấn đề không nằm ở việc hạ thấp tiêu chuẩn mà cần thay đổi cách tiếp cận: từ công nhận học hàm tại một thời điểm sang đánh giá năng lực, đóng góp học thuật liên tục trong suốt quá trình hoạt động nghề nghiệp. Trong nền đại học hiện đại, điều quan trọng không chỉ là một nhà khoa học từng đạt chuẩn giáo sư, phó giáo sư mà là những giá trị họ đang đóng góp cho khoa học, đào tạo và sự phát triển của nhà trường.

Doãn Nhàn