Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1091/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước nhằm phát triển hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược và an ninh mạng giai đoạn 2026–2030.
Theo mục tiêu của Đề án, đến năm 2030 sẽ hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước. Mỗi doanh nghiệp có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân từ 5.000 người trở lên; đồng thời có tối thiểu một tổ chức khoa học và công nghệ được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, tỷ lệ chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của mỗi doanh nghiệp phải đạt từ 3% tổng doanh thu trở lên.
Trước yêu cầu này, nhiều chuyên gia tại một số viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học đã đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới công tác đào tạo, góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển các doanh nghiệp công nghệ chiến lược trong thời gian tới.
Cần thay đổi tư duy về xây dựng và phát triển phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia
Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ái Việt - Viện trưởng Viện Công nghệ và Giáo dục Trí tuệ mới tạo sinh IGNITE, Thành viên Hội đồng Tư vấn Quốc gia về Phát triển Khoa học Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số bày tỏ, đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược không thể thiếu hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hiện nay tại nhiều cơ sở giáo dục đại học vẫn còn tình trạng "đào tạo chay", thiếu môi trường thực hành và nghiên cứu.
Ông Việt dẫn chứng, vừa qua chúng ta đặc biệt quan tâm tới thông tin về việc 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được đầu tư từ năm 2000 đến nay nhưng hiện nhiều nơi gần như không còn phát huy hiệu quả, trong khi tổng mức đầu tư rất lớn. Câu hỏi đặt ra về nguồn nhân lực từng làm việc tại các phòng thí nghiệm này, kết quả nghiên cứu đã được ứng dụng như thế nào và năng lực khoa học được duy trì ra sao là rất lớn.
Thực tế cho thấy, chỉ khi các phòng thí nghiệm vận hành thực chất, có hoạt động nghiên cứu thường xuyên thì mới phát sinh nhu cầu đầu tư, mua sắm thiết bị phù hợp. Ngược lại, nếu chỉ coi phòng thí nghiệm là nơi tập hợp các thiết bị thì sớm muộn những thiết bị đó cũng sẽ lạc hậu và xuống cấp.
"Chúng ta cần thay đổi cách nhìn về phòng thí nghiệm. Phòng thí nghiệm không chỉ là nơi đặt máy móc mà phải được xem là một tổ chức nghiên cứu có năng lực phát triển, có cơ chế hoạt động và tạo ra kết quả. Đầu tư cho phòng thí nghiệm cần hướng tới xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu và cơ chế vận hành thay vì chỉ mua danh mục thiết bị “cho có”. Nếu không có mô hình tổ chức phù hợp, sau nhiều năm, những thiết bị từng hiện đại cũng chỉ còn là đống sắt", ông Việt nói.
Ông cũng kiến nghị cần xây dựng cơ chế pháp lý để các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia có thể chia sẻ hạ tầng nghiên cứu với doanh nghiệp và các đơn vị khác. Đây là mô hình đã được nhiều quốc gia phát triển áp dụng hiệu quả.
Dẫn chứng từ kinh nghiệm quốc tế, ông Việt cho biết, tại châu Âu và Hoa Kỳ, khái niệm phòng thí nghiệm quốc gia không chỉ là không gian nghiên cứu mà còn là một tổ chức khoa học có sứ mệnh phát triển năng lực quốc gia. Những đơn vị như Phòng thí nghiệm Quốc gia SLAC (Hoa Kỳ) hay Phòng thí nghiệm Quốc gia Argonne của Đại học Chicago, … đã tồn tại hàng chục năm và đến nay vẫn đang không ngừng mở rộng năng lực nghiên cứu.
Trong khi đó, tại Việt Nam vẫn tồn tại tư duy xây dựng phòng thí nghiệm theo “chữ viết nhỏ”, thiên về mua sắm danh sách thiết bị. Với các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia phải là “chữ viết lớn”, phải là một tổ chức nghiên cứu có cơ chế hoạt động, có đội ngũ, có kết quả và có khả năng phát triển lâu dài.
Chính vì vậy, cần có mô hình đầu tư mới đối với hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm thực sự đúng nghĩa. Bởi, bản chất của phòng thí nghiệm là năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D); chỉ khi có năng lực nghiên cứu mạnh mới có thể đào tạo được đội ngũ nhân lực công nghệ chất lượng cao và tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận những công nghệ tiên tiến nhất.
Bên cạnh đó, Phó Giáo sư Nguyễn Ái Việt cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải gia tăng đầu tư cho hoạt động R&D.
Theo ông Việt, hiện nay nguồn lực vẫn chủ yếu dành cho quản lý, xây dựng hạ tầng và các hoạt động hỗ trợ, trong khi đầu tư trực tiếp cho nghiên cứu phát triển còn hạn chế. Do đó, cần có cơ chế để doanh nghiệp thực sự tăng đầu tư cho R&D.
Nếu xét theo đúng định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD, nhiều khoản chi hiện nay mà chúng ta lại nói là chi cho nghiên cứu phát triển thực chất vẫn chưa thực sự được tính là đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Vì vậy, nếu không xác định đúng bản chất của hoạt động này thì rất khó đánh giá việc đạt mục tiêu mỗi doanh nghiệp phải chi tối thiểu 3% doanh thu cho hoạt động R&D như Quyết định số 1091/QĐ-TTg đã đặt ra.
“Mục tiêu hình thành 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược với quy mô lớn và thành lập các trung tâm nghiên cứu trong đó không phải là thách thức quá lớn. Tuy nhiên, quan trọng hơn là phải bảo đảm các doanh nghiệp thực sự đầu tư cho R&D đúng nghĩa để nâng cao năng lực khoa học, công nghệ quốc gia và tạo ra các công nghệ mới.
Theo nghiên cứu, nếu tổng chi cho R&D của một quốc gia chưa đạt khoảng 2% GDP thì rất khó hình thành năng lực sáng tạo công nghệ; còn nếu chưa đạt khoảng 1% GDP thì khả năng hấp thụ công nghệ cũng sẽ bị hạn chế. Đây là vấn đề cần đặc biệt quan tâm nếu Việt Nam muốn xây dựng thành công hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ chiến lược trong giai đoạn tới”, ông Việt nhấn mạnh.
Ngoài ra, Phó Giáo sư Nguyễn Ái Việt, trở ngại lớn nhất hiện nay đối với phát triển công nghệ chiến lược là vẫn thiếu cơ chế đủ mạnh để khuyến khích các bên tham gia. Vì vậy, nhiều đơn vị mới dừng ở mức hưởng ứng chủ trương, chưa thực sự đầu tư và triển khai bài bản.
Theo ông Việt, các trường đại học và viện nghiên cứu có liên quan cần có cơ chế tôn vinh, khuyến khích đội ngũ nhà khoa học tham gia sâu hơn vào nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược. Đồng thời, doanh nghiệp cũng phải chủ động đồng hành, đầu tư và tạo điều kiện để hình thành những nhóm nghiên cứu đủ năng lực tiếp nhận, phát triển và thương mại hóa các công nghệ do nhà khoa học trong trường đại học nghiên cứu.
Ông Việt cũng nhận định, thời gian qua, mô hình liên kết "ba nhà" gồm Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp được nhắc đến nhiều, song vẫn chưa thực sự đặt đội ngũ nhà khoa học vào vị trí trung tâm. Trong khi đó, nếu các nhà khoa học không chủ động tìm kiếm cơ hội hợp tác, đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu thì rất khó tạo ra những sản phẩm có giá trị thực tiễn.
Để hiện thực hóa mục tiêu của Quyết định số 1091/QĐ-TTg, doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xây dựng chương trình đào tạo, xác định rõ nhu cầu nhân lực, kỹ năng và năng lực cần có để các cơ sở đào tạo thiết kế chương trình theo hướng "đào tạo theo đặt hàng".
Một giải pháp khác được ông đề xuất là các trường đại học cần xây dựng thêm từ 5–10 học phần tự chọn về công nghệ chiến lược trong các chương trình đào tạo thuộc những ngành liên quan. Qua đó, sinh viên được bổ sung các kỹ năng chuyên sâu, có thể nhanh chóng thích nghi với yêu cầu công việc ngay sau khi tốt nghiệp.
Cơ sở giáo dục đại học cần thay đổi 3 phương diện
Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những cơ sở giáo dục đại học đang đào tạo các nhóm ngành thuộc lĩnh vực công nghệ chiến lược như Công nghệ thông tin, An toàn thông tin, Công nghệ kỹ thuật điện tử - viễn thông và các ngành liên ngành ứng dụng dữ liệu lớn.
Theo chia sẻ từ Tiến sĩ Thái Doãn Thanh - Phó Hiệu trưởng nhà trường nhận định: “Mục tiêu được đặt ra tại Quyết định số 1091/QĐ-TTg vừa mang tính tham vọng, vừa có tính khả thi và là yêu cầu bắt buộc nếu Việt Nam muốn vượt qua "bẫy thu nhập trung bình", từng bước làm chủ công nghệ thay vì chỉ dừng lại ở vai trò gia công”.
Theo thầy Thanh, việc hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn cùng yêu cầu mỗi doanh nghiệp công nghệ số phải có tối thiểu 5.000 lao động tham gia bảo hiểm xã hội hằng năm sẽ tạo ra quy mô đủ lớn để chúng ta có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Đồng thời, quy định mỗi doanh nghiệp phải có ít nhất một tổ chức khoa học và công nghệ, dành tối thiểu 3% tổng doanh thu cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) được xem là "chìa khóa vàng".
Trong khi các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới như Samsung, Huawei đang đầu tư từ 10-15% doanh thu cho R&D thì mức 3% tại Việt Nam được đánh giá là bước khởi đầu phù hợp, tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư làm chủ công nghệ lõi thay vì chỉ mua bản quyền hoặc thương mại hóa công nghệ của nước ngoài.
Để đồng hành với mục tiêu này, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, các trường đại học cần thay đổi trên ba phương diện.
Một là, đổi mới tư duy quản trị, chuyển từ "đào tạo những gì mình có" sang "đào tạo những gì thị trường công nghệ chiến lược cần". Hai là, chuyển đổi mô hình nghiên cứu từ "nghiên cứu để cất ngăn kéo" sang nghiên cứu gắn với chuyển giao và thương mại hóa. Ba là, xây dựng cơ chế liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp thông qua các phòng thí nghiệm nghiên cứu chung (Joint Lab) đặt tại trường hoặc doanh nghiệp.
Đặc biệt, theo thầy Thanh, con người và cơ chế chia sẻ lợi ích mới là những yếu tố mang tính quyết định. Máy móc hiện đại có thể được đầu tư trong thời gian ngắn, nhưng để đào tạo một chuyên gia đầu ngành cần tới hàng chục năm. Vì vậy, cần có cơ chế tài chính thông thoáng để giảng viên, nhà khoa học và sinh viên được hưởng lợi ích xứng đáng từ các phát minh, sáng chế của mình, qua đó thúc đẩy hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đứng trước những mục tiêu của đề án trên, hệ thống giáo dục đại học đặc biệt giữ vai trò nền tảng khi không chỉ đào tạo đội ngũ kỹ sư, chuyên gia mà còn là trung tâm đổi mới sáng tạo, cung cấp các kết quả nghiên cứu phục vụ doanh nghiệp thương mại hóa. Nếu thiếu nguồn nhân lực số chất lượng cao từ các trường đại học, mục tiêu hình thành khoảng 50.000 lao động trình độ cao cho 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược sẽ gặp trở ngại lớn về nhân lực.
Theo thầy Thanh, để đáp ứng yêu cầu mỗi doanh nghiệp công nghệ chiến lược với quy mô nhân lực lớn, các trường đại học đào tạo lĩnh vực công nghệ chiến lược và nhân lực số cần chuẩn bị đồng bộ trên ba phương diện.
Thứ nhất là, mở rộng quy mô đào tạo theo chiều sâu. Theo đó, cần tăng chỉ tiêu tuyển sinh đối với các ngành mũi nhọn như An toàn thông tin, Khoa học dữ liệu, Trí tuệ nhân tạo, Vi mạch bán dẫn, đồng thời kiểm soát chặt chẽ chuẩn đầu ra, tránh chạy theo số lượng làm ảnh hưởng đến chất lượng.
Thứ hai là, đẩy mạnh mô hình "đại học trong doanh nghiệp", chuyển từ đào tạo hàn lâm sang đào tạo ứng dụng. Nhà trường cần chủ động phối hợp với các tập đoàn công nghệ lớn để sinh viên tham gia các dự án thực tế ngay từ năm thứ hai hoặc năm thứ ba. Điều này sẽ giúp rút ngắn thời gian doanh nghiệp phải đào tạo lại sau tuyển dụng từ 6-12 tháng xuống gần như bằng 0.
Thứ ba là, đầu tư mạnh mẽ cho đội ngũ giảng viên thông qua việc cử đi đào tạo, tu nghiệp ở nước ngoài hoặc thu hút các chuyên gia giàu kinh nghiệm từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu.
"Tại Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã sớm nhận diện xu hướng này và chủ động triển khai nhiều giải pháp cụ thể.
Hiện nay, nhà trường tập trung phát triển các ngành Công nghệ thông tin, An toàn thông tin, Công nghệ kỹ thuật điện tử - viễn thông và các ngành liên ngành ứng dụng dữ liệu lớn theo các tiêu chuẩn kiểm định quốc tế như AUN-QA, ASIIN nhằm bảo đảm sinh viên tốt nghiệp có năng lực làm việc trong môi trường toàn cầu. Những điều chỉnh cốt lõi của chương trình đào tạo là tăng cường tích hợp hoạt động R&D vào đồ án tốt nghiệp; bổ sung các học phần về kỹ năng mềm, an ninh mạng cơ bản và đẩy mạnh mô hình học tập qua trải nghiệm (Experiential Learning).
Theo đó, thay vì thực hiện các đề tài mang tính lý thuyết, sinh viên được khuyến khích hoặc bắt buộc giải quyết những bài toán thực tiễn của doanh nghiệp. Đồ án tốt nghiệp phải hướng tới tạo ra các sản phẩm mẫu (Prototype). Đồng thời, dù theo học bất kỳ ngành công nghệ nào, sinh viên cũng được trang bị tư duy thiết kế (Design Thinking), kỹ năng làm việc nhóm và nhận thức về an ninh, bảo mật thông tin - một trong những trụ cột quan trọng của Đề án 1091. Thời lượng thực hành, thực tập tại doanh nghiệp hiện chiếm khoảng 25-35% tổng thời lượng chương trình đào tạo", thầy Thanh cho biết.
Để đào tạo đội ngũ có khả năng làm chủ công nghệ lõi - lĩnh vực đòi hỏi thời gian và nguồn lực đầu tư lớn, thầy Thanh cũng đưa ra một số kiến nghị đối với Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan.
Trước hết, tạo đột phá về cơ chế tự chủ đại học trong nghiên cứu và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Theo đó, cần có hành lang pháp lý thông thoáng hơn để các trường đại học thành lập doanh nghiệp khởi nguồn (Spin-off) ngay trong trường nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của giảng viên, sinh viên mà không gặp vướng mắc về quản lý tài sản công.
Không những vậy, cần ban hành chính sách ưu đãi thuế mạnh mẽ đối với doanh nghiệp đầu tư cho giáo dục thông qua tài trợ phòng thí nghiệm, cấp học bổng hoặc phối hợp đào tạo với các trường đại học. Khi doanh nghiệp nhìn thấy lợi ích kinh tế trực tiếp từ các chính sách ưu đãi, họ sẽ chủ động đồng hành cùng nhà trường.
Ngoài ra, Chính phủ cần xây dựng các chương trình đặt hàng nghiên cứu dài hạn từ 5-10 năm đối với những lĩnh vực công nghệ lõi như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và an ninh mạng cho các nhóm nghiên cứu mạnh tại trường đại học, tập trung vào mục tiêu làm chủ công nghệ và đào tạo đội ngũ tiến sĩ, kỹ sư chất lượng cao thay vì chỉ đặt nặng yêu cầu tạo lợi nhuận trong ngắn hạn.