Cơ sở giáo dục phải ban hành quy tắc ứng xử về sử dụng AI trong đào tạo, NCKH

05/07/2026 06:25
Tường San

GDVN -Theo Thông tư số 49/2026/TT-BGDĐT, cơ sở giáo dục phải có trách nhiệm ban hành quy định nội bộ về liêm chính học thuật và bộ quy tắc ứng xử về sử dụng trí tuệ nhân tạo trong đào tạo, nghiên cứu khoa học.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BGDĐT quy định ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.

Được biết, thông tư này được xây dựng nhằm cụ thể hóa quy định của Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 về ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; đồng thời bảo đảm sự thống nhất với Luật Chuyển đổi số, Luật Trí tuệ nhân tạo và các quy định về quản lí dữ liệu trong giáo dục và đào tạo.

Thiết lập khung pháp lí thống nhất về ứng dụng công nghệ trong toàn bộ hoạt động của cơ sở giáo dục

Đáng chú ý, đây là lần đầu tiên Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), thực tế ảo (VR) và nhiều công nghệ mới trong đào tạo, kiểm tra, đánh giá, nghiên cứu khoa học, quản trị và cung cấp dịch vụ giáo dục. Phạm vi điều chỉnh của thông tư cũng được mở rộng từ giáo dục đại học sang cả giáo dục nghề nghiệp.

5df9ebad-69f4-4b02-adca-7a22d96d649f.png
Ảnh tạo bằng AI

Theo đó, thông tư được xây dựng theo hướng kế thừa và thay thế các nội dung quy định tại Thông tư số 15/2018/TT-BGDĐT quy định tổ chức hoạt động, sử dụng thư điện tử và trang thông tin điện tử của các cơ sở giáo dục đại học, các trường cao đẳng sư phạm và Thông tư số 30/2023/TT-BGDĐT quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo trực tuyến đối với giáo dục đại học.

Không chỉ kế thừa các quy định hiện hành, phạm vi điều chỉnh của thông tư cũng được mở rộng. Nếu các quy định trước đây chủ yếu điều chỉnh việc sử dụng thư điện tử, cổng thông tin điện tử hoặc đào tạo trực tuyến thì thông tư mới thiết lập một khung pháp lí thống nhất về ứng dụng công nghệ trong toàn bộ hoạt động của cơ sở giáo dục.

Đồng thời, thông tư còn xác lập các nguyên tắc ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, trong đó bảo đảm quyền tự chủ của cơ sở giáo dục gắn với tự kiểm soát, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Việc ứng dụng công nghệ phải lấy người học làm trung tâm, phục vụ thực hiện chương trình đào tạo và đáp ứng chuẩn đầu ra.

Thông tư cũng yêu cầu việc ứng dụng công nghệ phải tuân thủ kiến trúc số do cơ quan có thẩm quyền ban hành, bảo đảm khả năng kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu, tránh đầu tư phân tán, cục bộ. Các cơ sở giáo dục phải bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm và tuân thủ liêm chính học thuật.

Nhấn mạnh về bảo đảm liêm chính học thuật trong môi trường số

Đặc biệt, thông tư còn nhấn mạnh đến việc bảo đảm liêm chính học thuật trong môi trường số. Cụ thể, thông tư quy định các phương thức đào tạo có ứng dụng công nghệ bao gồm: đào tạo trực tiếp có hỗ trợ công nghệ số, đào tạo trực tuyến toàn phần, đào tạo kết hợp và đào tạo cá thể hóa dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Cơ sở giáo dục bắt buộc phải có hệ thống quản lí học tập đáp ứng yêu cầu về nghiệp vụ, tiêu chuẩn kĩ thuật; bảo đảm các chức năng xác thực danh tính, lưu vết quá trình học tập và hỗ trợ phòng ngừa gian lận.

Đối với kiểm tra, đánh giá, kết quả thực hiện trên môi trường số phải được lưu trữ, có khả năng truy xuất và kiểm chứng phục vụ thanh tra, kiểm tra. Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong đào tạo và kiểm tra đánh giá được xác định là công cụ hỗ trợ, không thay thế vai trò và trách nhiệm học thuật của giảng viên.

Thông tư quy định cụ thể các hành vi vi phạm liêm chính học thuật trong môi trường số, bao gồm: sử dụng trí tuệ nhân tạo để gian lận; sao chép, đạo văn; giả mạo, làm sai lệch dữ liệu; không công bố việc sử dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo khi có yêu cầu.

Cơ sở giáo dục có trách nhiệm ban hành quy định nội bộ về liêm chính học thuật và bộ quy tắc ứng xử về sử dụng trí tuệ nhân tạo trong đào tạo, nghiên cứu khoa học; xác định rõ các hành vi vi phạm, biện pháp phòng ngừa và quy trình xử lý.

Không chỉ tạo hành lang pháp lý cho chuyển đổi số trong giáo dục, thông tư còn đưa ra nhiều quy định nhằm hỗ trợ người học từ tuyển sinh đến tốt nghiệp và kết nối việc làm.

Theo đó, các cơ sở giáo dục phải xây dựng và ban hành kiến trúc, mô hình giáo dục số làm nền tảng triển khai ứng dụng công nghệ trong mọi hoạt động của nhà trường. Công tác quản trị phải dựa trên dữ liệu để phục vụ điều hành, phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định.

Thông tư cũng yêu cầu các cơ sở giáo dục phát triển cơ sở dữ liệu tập trung, số hóa thông tin về chương trình đào tạo, người học, giảng viên, kết quả học tập và hoạt động nghiên cứu khoa học. Dữ liệu phải được kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu ngành theo quy định.

Đối với dịch vụ số, các cơ sở giáo dục phải cung cấp dịch vụ đào tạo, hành chính và tư vấn trên môi trường số, bảo đảm nguyên tắc không yêu cầu người học cung cấp lại những thông tin, dữ liệu hợp lệ đã có trong các hệ thống được kết nối và chia sẻ. Công nghệ cũng được ứng dụng để theo dõi, tư vấn và hỗ trợ người học xuyên suốt từ khâu tuyển sinh, học tập đến tốt nghiệp và kết nối việc làm.

Thông tư đồng thời quy định các điều kiện bảo đảm triển khai, bao gồm phát triển năng lực số và năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho đội ngũ nhà giáo và người học; đầu tư phát triển hạ tầng số theo hướng ưu tiên sử dụng các nền tảng dùng chung và điện toán đám mây; tăng cường quản trị dữ liệu và bảo đảm an ninh mạng.

Đối với các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp nền tảng và giải pháp công nghệ, thông tư quy định rõ trách nhiệm tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn dữ liệu, yêu cầu về bảo mật thông tin; bảo đảm tính liên tục của dịch vụ, đồng thời thực hiện việc chuyển giao dữ liệu theo quy định của pháp luật và thỏa thuận với các cơ sở giáo dục.

Tường San