Bài toán giữ chân nhân tài nhìn từ góc nhìn của nhà khoa học được thu hút về nước

12/07/2026 06:24
Hồng Linh

GDVN - Để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn đối với nhân tài khoa học, cần xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu đồng bộ, ổn định và có tính cạnh tranh quốc tế.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được xác định là những động lực để đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh đó, Quyết định số 530/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam, được kỳ vọng sẽ tạo thêm cơ hội để huy động nguồn lực trí thức toàn cầu phục vụ đất nước.

Thực tế, những năm gần đây, ngày càng nhiều nhà khoa học Việt Nam sau thời gian học tập, nghiên cứu, làm việc tại các trường đại học, viện nghiên cứu ở nước ngoài đã lựa chọn trở về công tác tại các cơ sở giáo dục đại học trong nước.

5 yếu tố tạo nên một hệ sinh thái nghiên cứu mạnh

Giáo sư, Tiến sĩ, Dược sĩ Thái Khắc Minh - Trưởng khoa Khoa Dược, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm Chăm sóc Sức khỏe, Trường Đại học Khoa học Sức khỏe (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) là một trong những nhà khoa học đầu tiên được chiêu mộ thông qua Chương trình VNU350 (Chương trình thu hút, giữ chân và phát triển 350 nhà khoa học trẻ xuất sắc, các nhà khoa học đầu ngành về công tác tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).

Đề cập đến vấn đề xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Minh cho biết: “Môi trường nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, để Việt Nam thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn đối với nhân tài khoa học, điều quan trọng nhất là xây dựng được hệ sinh thái nghiên cứu đồng bộ, ổn định và có tính cạnh tranh quốc tế.

Một hệ sinh thái nghiên cứu mạnh cần hội tụ ít nhất 5 yếu tố. Trước hết là con người, bao gồm đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên, nghiên cứu sinh và sinh viên tài năng được đào tạo bài bản. Đây là yếu tố cốt lõi quyết định chất lượng và tính bền vững của một nhóm nghiên cứu.

Tiếp đó là hạ tầng nghiên cứu, từ phòng thí nghiệm, cơ sở dữ liệu, các nền tảng tính toán hiệu năng cao đến hệ thống thiết bị hiện đại phục vụ nghiên cứu liên ngành. Đặc biệt, phải bảo đảm khả năng tiếp cận nhanh chóng các hóa chất, vật tư tiêu hao, nguyên vật liệu và linh kiện phục vụ nghiên cứu.

Ngoài ra, cần cơ chế quản trị linh hoạt, giảm bớt các thủ tục hành chính và tạo điều kiện để nhà khoa học tập trung vào chuyên môn. Nên có cơ chế đặc thù đối với hoạt động nghiên cứu khoa học trong việc nhập khẩu hóa chất, nguyên vật liệu và trang thiết bị nghiên cứu. Đồng thời, cần có quy định thông thoáng hơn để các trường đại học có thể tiếp nhận thiết bị nghiên cứu đã qua sử dụng nhưng vẫn đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật do đối tác quốc tế tài trợ hoặc viện trợ. Đây là nguồn lực quý giá, giúp các trường đại học nâng cao năng lực nghiên cứu với chi phí hợp lý.

Cùng với đó là nguồn kinh phí ổn định. Các nhóm nghiên cứu cần nguồn lực đủ dài hạn để theo đuổi những hướng nghiên cứu có tính đột phá. Cơ chế tài chính cũng cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua sắm vật tư, hóa chất và triển khai nghiên cứu đúng tiến độ.

Cuối cùng là môi trường hợp tác quốc tế, cho phép các nhóm nghiên cứu tham gia vào mạng lưới học thuật, dự án nghiên cứu quy mô lớn và các chương trình trao đổi học giả, nghiên cứu sinh. Đây là con đường nhanh nhất để cập nhật tri thức mới, nâng cao năng lực nghiên cứu và đào tạo thế hệ nhà khoa học trẻ.

Là nhà khoa trúng tuyển Chương trình VNU350 đợt 1 năm 2026 của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Hoàng Hưng - Giảng viên Bộ môn Toán, Trường Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) chia sẻ: “Để một nhà khoa học có thể gắn bó lâu dài và phát huy tốt nhất năng lực, cần có một môi trường nghiên cứu ổn định, chuyên nghiệp và dựa trên sự tin tưởng. Yếu tố quan trọng nhất không chỉ là chính sách đãi ngộ ban đầu, mà là khả năng xây dựng một lộ trình học thuật dài hạn: được chủ động phát triển hướng nghiên cứu, có điều kiện hình thành nhóm nghiên cứu, có cơ chế đánh giá minh bạch và có cơ hội đào tạo học trò. Khi nhà khoa học nhìn thấy tương lai của nhóm nghiên cứu, sinh viên và những ý tưởng khoa học mà bản thân theo đuổi, họ sẽ có động lực gắn bó lâu dài và cống hiến bền vững".

Theo thầy Hưng, các trường đại học cần ưu tiên hoàn thiện hệ sinh thái nghiên cứu đồng bộ, thay vì chỉ tập trung vào từng chính sách riêng lẻ.

Đầu tiên, phải nhắc đến nguồn lực nghiên cứu ổn định theo chu kỳ nhiều năm. Một nhóm nghiên cứu không thể phát triển bền vững chỉ bằng các đề tài ngắn hạn; cần có kinh phí khởi động, hỗ trợ nghiên cứu sinh và sau tiến sĩ, kinh phí tổ chức hội thảo khoa học, công bố quốc tế, trao đổi học thuật và hợp tác với các chuyên gia bên ngoài.

Tiếp đó, cơ chế hành chính cần được tinh gọn, minh bạch và chuyên nghiệp. Nhà khoa học cần dành phần lớn thời gian cho nghiên cứu, hướng dẫn và hợp tác, thay vì bị phân tán bởi thủ tục giấy tờ. Cùng với đó, cần “cải tiến” cơ chế đánh giá, dựa trên chất lượng, tính liêm chính khoa học và sự đóng góp cho đào tạo cũng như khả năng xây dựng nhóm.

Song song với đó, cần đầu tư đồng bộ cho hạ tầng nghiên cứu và các trung tâm nghiên cứu. Đi cùng không gian làm việc, thư viện số, cơ sở dữ liệu, phần mềm chuyên ngành và năng lực tính toán phù hợp, nên phát triển các phòng thí nghiệm khoa học tính toán để hỗ trợ mô phỏng, phân tích dữ liệu và triển khai các bài toán liên ngành.

Các trung tâm nghiên cứu cũng cần được vận hành linh hoạt để tổ chức seminar chuyên đề, trường hè, hội thảo quốc tế và những sự kiện khoa học quan trọng; có không gian làm việc tạm thời và các điều kiện hỗ trợ phù hợp cho giáo sư thỉnh giảng hoặc các nhà khoa học đến thăm, làm việc với đơn vị.

Khi các chuyên gia quốc tế có thể lưu trú, trao đổi học thuật, giảng bài và làm việc trực tiếp với giảng viên, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh, các trung tâm này sẽ thực sự trở thành nơi kết nối cộng đồng khoa học, thúc đẩy hợp tác liên ngành, hình thành các hướng nghiên cứu mới và tạo ra những hợp tác sâu sắc, bền vững hơn.

dsc05397.png
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Hoàng Hưng tốt nghiệp Cử nhân tài năng Ngành Toán học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh); tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Toán ứng dụng tại Trường Đại học Paris VI, (Pháp) với học bổng Marie Curie. Ảnh: NVCC.

Đóng góp của nhà khoa học không chỉ được đo bằng số lượng bài báo

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Thái Khắc Minh, giá trị lớn nhất của nghiên cứu là khi kết quả được chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ, chính sách hoặc giải pháp thực sự giải quyết các vấn đề của xã hội và tạo ra giá trị kinh tế. Để làm được điều đó, ngay từ khi hình thành ý tưởng nghiên cứu, nhà khoa học cần đặt câu hỏi: Kết quả này sẽ giải quyết bài toán gì của đất nước? Ai sẽ là người sử dụng và ai sẽ là đối tác tiếp nhận?

Các trường đại học cũng cần chuyển mạnh từ mô hình "công bố khoa học" sang mô hình "từ phòng thí nghiệm đến thị trường" (from lab to market). Ngoài công bố quốc tế, cần khuyến khích đăng ký sở hữu trí tuệ, phát triển công nghệ, thành lập doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off), tăng cường hợp tác với doanh nghiệp và xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ ngay trong trường đại học.

Nếu các trường đại học, doanh nghiệp và Nhà nước cùng xây dựng được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiệu quả, trong đó nghiên cứu được định hướng từ nhu cầu thực tiễn và có cơ chế thuận lợi cho bảo hộ sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thì khoa học sẽ trở thành động lực trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế. Không chỉ tạo ra tri thức mới, khoa học còn tạo ra doanh nghiệp mới, ngành công nghiệp mới, việc làm chất lượng cao và các sản phẩm có sức cạnh tranh quốc tế.

Đối với các trường đại học nghiên cứu, số lượng bằng sáng chế, công nghệ được chuyển giao và doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học cũng cần trở thành những chỉ số quan trọng bên cạnh số lượng công bố quốc tế. Đó cũng chính là con đường để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số mà đất nước đang hướng tới.

Trong suốt quá trình học tập và làm việc ở nước ngoài, Giáo sư, Tiến sĩ, Dược sĩ Thái Khắc Minh luôn xem việc xây dựng mạng lưới hợp tác quốc tế là một tài sản quan trọng và cố gắng để những mối quan hệ đó mang lại giá trị thiết thực cho Việt Nam.

Thầy Minh cho biết: “Thời gian qua, tôi và cộng sự đã thiết lập và mở rộng hợp tác với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp quốc tế trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo để khám phá thuốc, công nghệ dược, công nghệ sinh học và khoa học sức khỏe. Đặc biệt, tôi quan tâm đến việc kết nối các đối tác quốc tế trong nghiên cứu y học cổ truyền, dược liệu và phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Thông qua các mạng lưới hợp tác này, chúng tôi triển khai các dự án nghiên cứu chung, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, trao đổi học giả, phát triển sản phẩm và từng bước chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp.

Tôi mong muốn hợp tác quốc tế sẽ là quá trình 2 chiều, đưa tri thức, công nghệ và nguồn lực của thế giới đến Việt Nam và đưa các giá trị khoa học của Việt Nam nhất là nguồn dược liệu phong phú và nền y học cổ truyền ra thế giới. Khi kết hợp được tri thức truyền thống với khoa học công nghệ hiện đại, chúng ta sẽ tạo ra những sản phẩm có giá trị cao, góp phần phát triển kinh tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng và nâng tầm vị thế khoa học Việt Nam trên trường quốc tế”.

z7973146860633-d68c5dd25fcb52f1dac4a6fa9f0227b9.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ, Dược sĩ Thái Khắc Minh tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Công nghiệp Dược tại Trường Đại học Sungkyunkwan (Hàn Quốc) năm 2004 và Tiến sĩ ngành Dược tại Đại học Vienna (Áo) năm 2008. Ảnh: NVCC.

Cùng bàn luận về nội dung này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Hoàng Hưng cho rằng đóng góp của một nhà khoa học không chỉ được đo bằng số lượng bài báo, mà còn ở việc tạo ra năng lực nghiên cứu bền vững và đào tạo được những con người có khả năng giải quyết các vấn đề mới.

Cần nhìn nhận rằng nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng có những con đường đóng góp khác nhau nhưng đều thiết yếu. Nghiên cứu lý thuyết tạo ra tri thức, phương pháp và nguồn nhân lực chất lượng cao. Các công trình lý thuyết chất lượng cao cũng góp phần nâng uy tín khoa học của Việt Nam; khi cộng đồng quốc tế biết đến Việt Nam qua các kết quả có giá trị, nhóm nghiên cứu mạnh và hợp tác thực chất, sức hấp dẫn đối với chuyên gia, đối tác và nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ sẽ được củng cố.

Đối với nghiên cứu ứng dụng, yêu cầu quan trọng là kết quả phải có khả năng đi vào thực tiễn và tạo ra đầu ra rõ ràng, chẳng hạn một quy trình, mô hình, thuật toán, phần mềm, thiết bị, giải pháp quản lý, khuyến nghị chính sách hoặc công cụ hỗ trợ quyết định. Vì vậy, ngay từ khi xác định đề tài cần có sự tham gia của doanh nghiệp, bệnh viện, cơ quan quản lý hoặc đơn vị công nghệ để bài toán xuất phát từ nhu cầu thật, được kiểm chứng bằng dữ liệu thật và có địa chỉ tiếp nhận cụ thể.

Các trường đại học và trung tâm nghiên cứu cần đóng vai trò kết nối giữa nhà khoa học với doanh nghiệp, khu vực công và cộng đồng; cùng với đó là có cơ chế hỗ trợ thử nghiệm, hoàn thiện, chuyển giao và đánh giá tác động của kết quả nghiên cứu. Khi chuỗi này vận hành tốt, công bố quốc tế sẽ không phải là điểm dừng mà trở thành một bước trong quá trình tạo ra tri thức, giải pháp và giá trị xã hội.

Đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số vì vậy không chỉ nên được nhìn qua doanh thu tức thời. Nghiên cứu lý thuyết góp phần nâng cao vị thế và năng lực khoa học của quốc gia; nghiên cứu ứng dụng tạo ra các công cụ, giải pháp và sản phẩm có thể triển khai trong thực tiễn. Hai hướng này bổ trợ cho nhau, tạo động lực dài hạn cho phát triển kinh tế, xã hội.

Với những kết nối quốc tế đã xây dựng trong quá trình học tập và làm việc ở nước ngoài, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Hoàng Hưng khẳng định, đây là nguồn lực chung cần được chuyển hóa thành các cơ hội học thuật cụ thể cho cộng đồng nghiên cứu tại Việt Nam.

Được biết, trong năm 2023 và 2025, thầy Hưng đã tổ chức thành công 2 Trường hè Toán học sinh viên tại Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán, với sự tham gia của nhiều nhà toán học uy tín trên thế giới. Các chương trình này không chỉ tạo diễn đàn trao đổi các hướng nghiên cứu mới, mà còn mở ra cơ hội hợp tác cụ thể cho các nhà nghiên cứu, học viên cao học và nghiên cứu sinh trong nước.

Trong thời gian tới, thầy Hưng muốn tiếp tục tổ chức các hoạt động như trường hè, seminar chuyên đề, hội thảo quốc tế và các chương trình trao đổi học thuật tại Trường Đại học Quốc tế cũng như Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Đây sẽ là không gian quan trọng để kết nối các nhà khoa học trong nước và quốc tế, tạo động lực cho hợp tác liên ngành, mở rộng cơ hội học tập và nghiên cứu cho sinh viên, học viên và các nhà khoa học trẻ.

Bên cạnh đó, thầy Hưng mong phát triển các đề tài đồng hướng dẫn, nhóm đồng tác giả và dự án hợp tác có mục tiêu rõ ràng. Sinh viên giỏi và nghiên cứu sinh có thể được kết nối với các nhóm nghiên cứu ở nước ngoài thông qua các bài toán cụ thể, từ đó dần hình thành năng lực nghiên cứu độc lập và mạng lưới chuyên môn của chính mình.

Hồng Linh