Cơ chế tài chính và đãi ngộ đặt ra thách thức trong thu hút nhà khoa học nước ngoài và Việt kiều

14/07/2026 06:24
ĐÀO HIỀN

GDVN -  Để đội ngũ này thực sự cống hiến lâu dài, không thể chỉ dừng lại ở chính sách thu hút mà cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, bao gồm cơ chế đãi ngộ phù hợp, môi trường học thuật cởi mở và điều kiện nghiên cứu đủ mạnh.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng gay gắt, việc thu hút chuyên gia, nhà khoa học quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống giáo dục đại học và khoa học công nghệ của Việt Nam. Đây cũng được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và tăng cường năng lực hội nhập quốc tế của các cơ sở giáo dục.

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 530/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu, làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Đây là bước cụ thể hóa chủ trương của Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Đồng thời cũng thể hiện quyết tâm xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao, từng bước đưa giáo dục và khoa học Việt Nam tiệm cận trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.

Tháo gỡ rào cản để chính sách thu hút nhân tài đi vào thực chất

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: Việc thu hút được các nhà khoa học đầu ngành không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu mà còn giúp gia tăng uy tín, thương hiệu của nhà trường. Đồng thời mở rộng hoạt động giao lưu, hợp tác học thuật với các đối tác quốc tế và cộng đồng trí thức người Việt Nam ở nước ngoài.

Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai, Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân cho rằng để thu hút và giữ chân các chuyên gia, nhà khoa học quốc tế cũng như người Việt Nam ở nước ngoài, các cơ sở giáo dục đại học vẫn phải đối mặt với không ít rào cản. Theo đó, thách thức lớn nhất hiện nay là hệ thống cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu, đặc biệt là các phòng thí nghiệm và trang thiết bị chuyên sâu, chưa đáp ứng yêu cầu của nhiều lĩnh vực công nghệ tiên tiến.

Thầy Nhân phân tích, các nhà khoa học Việt Nam hiện hoàn toàn có khả năng thực hiện những nghiên cứu lý thuyết. Tuy nhiên, để chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành công nghệ và sản phẩm lõi, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm. Đây cũng là khâu mà Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, trong khi nhiều nhà khoa học quốc tế đã có điều kiện tham gia và tích lũy kinh nghiệm triển khai các nghiên cứu thực nghiệm ở những trung tâm nghiên cứu tiên tiến.

Đối với các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo hay khoa học lượng tử, việc triển khai nghiên cứu đòi hỏi các phòng thí nghiệm hiện đại cùng hệ thống trang thiết bị đủ mạnh. Trong khi đó, số lượng các phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu quy mô lớn đáp ứng được yêu cầu này tại Việt Nam hiện còn khá khiêm tốn. Điều này khiến quá trình phát triển công nghệ lõi cũng như chuyển hóa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn gặp nhiều khó khăn.

Bên cạnh những hạn chế về cơ sở vật chất, theo thầy Nhân, các thủ tục liên quan đến lao động đối với chuyên gia nước ngoài cũng là một rào cản không nhỏ. Hiện nay, một số quy định dưới luật vẫn chưa được hoàn thiện theo hướng tạo thuận lợi cho việc thu hút chuyên gia quốc tế, khiến các nhà khoa học phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính khi sang Việt Nam giảng dạy, nghiên cứu và làm việc. Điều này phần nào ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của các cơ sở giáo dục đại học trong quá trình tìm kiếm và mời gọi nhân lực chất lượng cao.

Ngoài ra, cơ chế tài chính và chính sách đãi ngộ cũng đặt ra nhiều thách thức. Thầy Nhân cho biết, trong bối cảnh phần lớn các trường đại học đang thực hiện tự chủ tài chính, các cơ sở đào tạo phải chủ động cân đối nguồn kinh phí để chi trả cho chuyên gia. Do nguồn lực còn hạn chế, mức thu nhập và chế độ đãi ngộ dành cho các nhà khoa học quốc tế khi làm việc tại Việt Nam vẫn chưa thực sự cạnh tranh so với nhiều quốc gia trong khu vực.

Trong khi đó, đây lại là một trong những yếu tố quan trọng được các chuyên gia cân nhắc khi lựa chọn nơi làm việc lâu dài.

nhanc2r.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng phòng Đào tạo Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.

Trong khi đó, từ góc nhìn của nhà khoa học, chuyên gia giáo dục, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống - một trong những kiều bào tiêu biểu, đồng thời là một trong những chuyên gia đầu ngành về kỹ thuật hàng không tại Việt Nam lại cho rằng, để quá trình thực hiện chủ trương thu hút chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học phát huy hiệu quả, cần có những cơ chế đủ mạnh.

Theo thầy Tống, một trong những rào cản lớn hiện nay là nguồn lực tài chính của các trường đại học còn hạn chế. Trong bối cảnh nhiều cơ sở giáo dục thực hiện tự chủ, khả năng chi trả thu nhập và chế độ đãi ngộ cho các chuyên gia quốc tế chưa đủ sức cạnh tranh với các trường đại học và viện nghiên cứu ở nước ngoài. Do đó, nếu muốn thu hút và giữ chân đội ngũ trí thức chất lượng cao, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ về ngân sách, đồng hành cùng các cơ sở giáo dục trong việc chi trả thu nhập và tạo điều kiện làm việc tương xứng với năng lực, đóng góp của các nhà khoa học.

Bên cạnh vấn đề tài chính, theo thầy Tống, cần xây dựng môi trường học thuật phù hợp để phát huy hiệu quả chất xám của đội ngũ chuyên gia. Thay vì chỉ mời các nhà khoa học về giảng dạy, các cơ sở giáo dục nên kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học, qua đó tận dụng tối đa kinh nghiệm chuyên môn, năng lực nghiên cứu và mạng lưới hợp tác quốc tế của họ.

Ngoài ra, chương trình đào tạo cũng cần được đổi mới theo hướng tiệm cận chuẩn quốc tế. Thầy Tống cho biết, trên thực tế đã có trường hợp chuyên gia nước ngoài được mời về nhưng chương trình đào tạo chưa có học phần hoặc môn học phù hợp với chuyên môn của họ, khiến việc phát huy năng lực còn hạn chế. Cùng với đó, các trường cần mở rộng các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, tạo môi trường giảng dạy và học tập tương thích với thông lệ quốc tế. Đây sẽ là điều kiện quan trọng giúp các cơ sở giáo dục thuận lợi hơn trong việc mời giảng viên, chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu lâu dài.

Tại Chương trình "Homecoming for Vietnamese Scientists" với chủ đề "Từ chính sách thu hút nhân tài đến nâng cao năng lực khoa học quốc gia", Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn đã đặt ra một vấn đề đáng suy ngẫm. Theo Bộ trưởng, bên cạnh cơ chế, chính sách và chế độ đãi ngộ, một yếu tố không kém phần quan trọng là liệu các cơ sở giáo dục đại học và đội ngũ giảng viên, nhà khoa học trong nước có thực sự sẵn sàng đón nhận những người giỏi hơn về cùng làm việc hay chưa, hay vẫn còn tâm lý e ngại sự cạnh tranh về vị trí và ảnh hưởng chuyên môn.

Đồng tình với quan điểm này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống cho rằng, thực tế vẫn tồn tại tâm lý dè dặt, thậm chí đố kỵ trong một số môi trường học thuật, khiến sự hợp tác, chia sẻ chuyên môn giữa các nhà khoa học chưa thực sự cởi mở. Theo thầy, không ít giảng viên còn e ngại việc sinh viên sẽ có sự so sánh giữa giảng viên trong nước với các chuyên gia quốc tế hoặc người Việt Nam ở nước ngoài, từ đó ảnh hưởng đến vị thế và uy tín của bản thân.

Do đó, theo thầy, để thu hút và phát huy hiệu quả đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học quốc tế, trước hết cần xây dựng một môi trường học thuật cởi mở, nơi các giảng viên coi sự hiện diện của những chuyên gia giỏi là cơ hội để học hỏi, trao đổi học thuật và cùng nâng cao năng lực nghiên cứu, thay vì xem đó là áp lực cạnh tranh.

Bên cạnh đó, thầy Tống cho rằng cần đặt việc thu hút đội ngũ trí thức quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài trong chiến lược phát triển khoa học, công nghệ của quốc gia. Lực lượng này không chỉ tham gia giảng dạy mà cần đóng vai trò hạt nhân trong các nhóm nghiên cứu mạnh, cùng các nhà khoa học trong nước đề xuất và triển khai những đề tài xuất phát từ nhu cầu phát triển của Việt Nam, thay vì chủ yếu tham gia các hướng nghiên cứu của nước ngoài.

Đồng thời, cần tăng cường sự tham gia của các chuyên gia quốc tế vào quá trình hướng dẫn nghiên cứu sinh, học viên cao học và xây dựng các nhóm nghiên cứu liên ngành. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao trong nước.

Tạo điều kiện để đội ngũ nhà khoa học làm việc lâu dài tại Việt Nam, thay vì giao lưu trao đổi qua các hội thảo

Từ thực tiễn nhiều năm tuyển dụng và sử dụng giảng viên, chuyên gia quốc tế, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, thu hút được đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài mới chỉ là bước khởi đầu. Thách thức lớn hơn đối với các cơ sở giáo dục đại học là làm thế nào để giữ chân họ gắn bó lâu dài.

Theo thầy Hoàn, để đội ngũ này yên tâm cống hiến, các trường cần xây dựng một hệ sinh thái học thuật đủ hấp dẫn, từ môi trường nghiên cứu, điều kiện làm việc đến cơ hội phát triển chuyên môn, giúp các nhà khoa học có không gian phát huy tối đa năng lực.

Ở góc độ nguồn lực, tài chính vẫn là rào cản lớn nhất. Khoảng cách về thu nhập giữa Việt Nam và nhiều quốc gia phát triển khiến các cơ sở giáo dục khó cạnh tranh trong việc thu hút nhân lực chất lượng cao. Trong khi đó, phần lớn các trường đại học đang thực hiện tự chủ tài chính nên việc xây dựng chế độ đãi ngộ đủ hấp dẫn không hề dễ dàng.

Vì vậy, theo thầy Hoàn, Nhà nước cần nghiên cứu xây dựng cơ chế hỗ trợ hoặc một quỹ chuyên biệt để các cơ sở giáo dục có thêm nguồn lực mời chuyên gia, nhà khoa học quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu. Khi áp lực kinh phí được chia sẻ, các trường sẽ chủ động và mạnh dạn hơn trong việc thu hút, sử dụng đội ngũ nhân lực chất lượng cao.

721248690-2120211285217651-1792080648396222559-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hoàn - Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.

Không chỉ dừng ở việc bổ sung nguồn nhân lực, thầy Hoàn cho rằng việc thu hút chuyên gia cần được đặt trong mục tiêu xây dựng hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có tính kết nối. Khi quy tụ được các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới và người Việt Nam ở nước ngoài, các trường đại học không chỉ có thêm nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn mở rộng được mạng lưới hợp tác quốc tế, kết nối với các viện nghiên cứu, trường đại học và nhóm nghiên cứu mạnh trên thế giới. Qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa đối với hoạt động nghiên cứu khoa học trong nước.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và nâng cao năng lực khoa học, công nghệ quốc gia, cần coi đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học là lực lượng nòng cốt của hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, để phát huy được vai trò này, không thể chỉ đầu tư cho con người mà còn phải đầu tư đồng bộ về hạ tầng nghiên cứu.

Từ điều kiện thực tiễn, thầy Hoàn đề xuất Nhà nước ưu tiên xây dựng các trung tâm nghiên cứu trọng điểm, trung tâm thực nghiệm quy mô vùng hoặc quốc gia để nhiều cơ sở giáo dục cùng khai thác, sử dụng. Đây sẽ là nền tảng hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, thúc đẩy tạo ra các sản phẩm khoa học và công nghệ có giá trị phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

730598828-978471495011700-8771986084309343622-n.jpg
Khi quy tụ được các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới, các trường đại học sẽ mở rộng được mạng lưới hợp tác quốc tế, kết nối với các viện nghiên cứu, nhóm nghiên cứu mạnh. Ảnh minh họa: Trường Đại học Công thương TPHCM.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân cũng cho rằng, để phát huy hiệu quả đội ngũ chuyên gia quốc tế, nhà khoa học nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài, cần coi đây là lực lượng hạt nhân trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của các cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên, để đội ngũ này thực sự cống hiến lâu dài, không thể chỉ dừng lại ở chính sách thu hút mà cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, bao gồm cơ chế đãi ngộ phù hợp, môi trường học thuật cởi mở và điều kiện nghiên cứu đủ mạnh để các nhà khoa học hiện thực hóa những ý tưởng của mình.

Theo thầy Nhân, muốn làm chủ các công nghệ lõi, Việt Nam cần chủ động đầu tư ngay từ giai đoạn đầu, thay vì chờ công nghệ đã phát triển trên thế giới rồi mới tiếp cận. Bởi những công nghệ mới, mang tính đột phá sẽ không dễ được chia sẻ ra bên ngoài. Chỉ khi các nhà khoa học hàng đầu lựa chọn làm việc lâu dài tại Việt Nam, được tạo điều kiện thuận lợi để toàn tâm nghiên cứu và phát triển, chúng ta mới có cơ hội tạo ra những công nghệ cốt lõi và các sáng chế có giá trị riêng.

"Đầu tư cho khoa học và công nghệ cũng chính là đầu tư cho tăng trưởng kinh tế. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự phát triển của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP. Tuy nhiên, đây là quá trình cần được nhìn nhận như một chiến lược dài hạn, không thể kỳ vọng có kết quả chỉ sau một sớm một chiều", thầy Nhân nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, việc xây dựng mạng lưới hợp tác giữa các nhà khoa học trong và ngoài nước là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân, nếu chỉ dừng ở các hoạt động giao lưu, trao đổi hay hội thảo thì khó có thể giúp Việt Nam làm chủ công nghệ. Điều quan trọng là phải thu hút được những nhà khoa học xuất sắc về làm việc lâu dài, tạo điều kiện để họ cùng các nhà khoa học trong nước hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, phát triển các ý tưởng mới và tạo ra những công nghệ mang dấu ấn của Việt Nam.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, thầy Nhân cho rằng Nhà nước cần đóng vai trò dẫn dắt trong đầu tư hạ tầng nghiên cứu. Theo đó, cần ưu tiên xây dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu quy mô lớn với trang thiết bị hiện đại, đồng thời chấp nhận mức độ rủi ro nhất định trong nghiên cứu khoa học.

Thực tế, phần lớn các trường đại học ở Việt Nam hiện chưa đủ nguồn lực để tự đầu tư các phòng thí nghiệm tầm cỡ. Vì vậy, có thể tham khảo mô hình của nhiều quốc gia khi Chính phủ đầu tư các dự án nghiên cứu trọng điểm nhưng giao cho các trường đại học chủ trì triển khai. Cách làm này không chỉ tạo môi trường để các nhà khoa học hiện thực hóa các ý tưởng nghiên cứu mà còn thúc đẩy kết nối, hợp tác giữa các nhóm nghiên cứu trong nước với mạng lưới tri thức quốc tế.

ĐÀO HIỀN