Từ khắc phục “trùng ngành” đến cùng phát huy thế mạnh đại học vùng, đại học quốc gia

16/08/2026 06:20
Hà Anh

GDVN -Bản chất của mô hình đại học đa lĩnh vực không phải là tập hợp cơ học nhiều trường, mà là tạo ra một chỉnh thể trong đó các đơn vị thành viên bổ trợ cho nhau, cùng tạo nên những năng lực mà từng trường riêng lẻ khó có thể hình thành.

Trong quá trình sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục đại học hiện nay, một vấn đề ngày càng được đặt ra rõ hơn: không chỉ cần xem xét số lượng trường đại học, mà còn cần nhìn lại cấu trúc bên trong đại học đa lĩnh vực (đại học quốc gia, vùng).

Đây là vấn đề có ý nghĩa lâu dài. Bởi khi một đại học được hình thành từ sự hợp nhất, sắp xếp nhiều cơ sở giáo dục khác nhau, rồi tiếp tục phát triển thêm các trường thành viên, viện, khoa và trung tâm, sự đa dạng về lịch sử, truyền thống và chuyên môn là một lợi thế. Nhưng nếu thiếu một chiến lược chung, sự đa dạng ấy cũng có thể dẫn đến chồng lấn chức năng, phân tán nguồn lực và cạnh tranh nội bộ.

Trong khi đó, bản chất của mô hình đại học đa lĩnh vực không phải là tập hợp cơ học nhiều trường, mà là tạo ra một chỉnh thể trong đó các đơn vị thành viên bổ trợ cho nhau, cùng tạo nên những năng lực mà từng trường riêng lẻ khó có thể hình thành.

Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học đã xác định yêu cầu phát triển các trung tâm giáo dục đại học lớn gắn với nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển vùng. Đối với các đại học quốc gia, định hướng hiện nay cũng nhấn mạnh vai trò của những trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và dẫn dắt các lĩnh vực trọng điểm.

Vì vậy, có lẽ đã đến lúc cần chuyển từ tư duy “mỗi trường thành viên phát triển những gì mình có” sang tư duy “toàn đại học cần phát triển những năng lực gì và mỗi trường đóng góp thế mạnh nào vào năng lực chung ấy”.

lhp02232.jpg
Ảnh: VNU-USSH

Không nhất thiết mỗi ngành chỉ có một nơi đào tạo

Khi nói đến sự chồng lấn giữa các đơn vị trong một đại học, cách tiếp cận dễ gặp nhất là thống kê những ngành có cùng tên và đặt câu hỏi: tại sao một đại học lại có nhiều trường cùng đào tạo một ngành?

Trong một đại học đa ngành, việc hai hoặc nhiều trường cùng đào tạo một ngành có thể không là bất hợp lí. Ví dụ, cùng là Công nghệ thông tin nhưng có thể có Công nghệ thông tin thiên về kĩ thuật, công nghệ số, khoa học dữ liệu, giáo dục, kinh tế, y sinh hay sản xuất thông minh… Vấn đề cần quan tâm hơn không phải là “có trùng tên ngành hay không”, mà là “có trùng chức năng, trùng định hướng, trùng sản phẩm đào tạo và trùng thị trường một cách không cần thiết hay không”.

Nếu cùng một mã ngành nhưng mỗi trường có một thế mạnh, một định hướng chuyên sâu, một hệ sinh thái nghiên cứu và một nhóm đối tượng nghề nghiệp khác nhau thì sự tồn tại song song với các chương trình đào tạo khác nhau, có thể tạo ra thế mạnh bổ trợ và thúc đẩy đổi mới.

Ngược lại, nếu nhiều đơn vị cùng đào tạo gần như một sản phẩm, cùng sử dụng những nguồn lực tương tự, cùng tuyển một nhóm người học và không tạo ra khác biệt rõ ràng, thì việc phân tán nguồn lực cần được xem xét lại.

Do đó, nguyên tắc phù hợp hơn có thể là: Cần tránh chồng lấn chức năng và cạnh tranh nội bộ thiếu cần thiết.

Mỗi trường thành viên cần có một thế mạnh đủ rõ

Một đại học quốc gia hay đại học vùng không nên được cấu trúc như một tập hợp của nhiều “trường đại học nhỏ”, trong đó trường nào cũng cố gắng có thật nhiều ngành, kể cả những ngành đang được xã hội quan tâm.

Một trường thành viên cần có một câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi: Trường này đóng góp năng lực đặc biệt nào cho toàn đại học?

Trường sư phạm cần trở thành trung tâm về khoa học giáo dục và đào tạo nhà giáo chuyên nghiệp. Trường ngoại ngữ cần trở thành trung tâm về ngôn ngữ, văn hóa, giao tiếp quốc tế và ngoại giao. Trường khoa học cần phát triển mạnh khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng. Trường kĩ thuật cần tập trung vào kĩ thuật, công nghệ, nghiên cứu và chế tạo. Trường kinh tế phát triển kinh tế, quản trị và chính sách. Điều đó không có nghĩa là mỗi trường bị “đóng khung” và không được liên ngành. Ngược lại, càng xác định rõ thế mạnh, càng có điều kiện hợp tác sâu với các trường khác.

Một đại học mạnh không phải là nơi mọi trường đều làm mọi việc, mà là nơi mỗi trường làm thật tốt một số việc và các năng lực đó kết nối thành một hệ sinh thái lớn.

Đào tạo giáo viên cần một hệ sinh thái chuyên nghiệp

Một trong những lĩnh vực cần được nhìn nhận theo cách này là đào tạo giáo viên. Giáo viên của tương lai không chỉ cần kiến thức môn học mà còn cần hiểu người học, biết thiết kế môi trường học tập, sử dụng công nghệ, đánh giá năng lực, tổ chức hoạt động giáo dục và thích ứng với những thay đổi rất nhanh của xã hội.

Vì vậy, đào tạo giáo viên cần được tổ chức như một hệ thống chuyên nghiệp, xuyên suốt và thống nhất, trong đó trường sư phạm giữ vai trò đầu mối về khoa học giáo dục và nghiệp vụ nghề nghiệp. Đặc biệt, giáo viên ngoại ngữ cần được đào tạo trong sự kết hợp giữa năng lực ngôn ngữ và năng lực sư phạm.

Trường ngoại ngữ có thể là nơi cung cấp nền tảng chuyên sâu về ngôn ngữ học, văn hóa, giao tiếp quốc tế, biên phiên dịch và ngoại giao; trường sư phạm chịu trách nhiệm về khoa học giáo dục, tâm lí học, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và thực hành nghề nghiệp. Hai bên không nên cạnh tranh để cùng làm một sản phẩm, mà nên cùng tạo ra một sản phẩm tốt hơn: những nhà giáo dục ngoại ngữ thực sự chuyên nghiệp.

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc cách con người học và sử dụng ngôn ngữ, các trường ngoại ngữ cũng cần chuyển mạnh từ đào tạo ngôn ngữ theo nghĩa truyền thống sang phát triển ngôn ngữ, văn hóa, ngoại giao và năng lực giao tiếp trong môi trường AI. AI có thể hỗ trợ dịch thuật, nhưng năng lực hiểu văn hóa, tư duy phản biện, giao tiếp liên văn hóa và ngoại giao vẫn là những năng lực rất khó thay thế.

vnu-khoa-hoa-vnu-hus-6-1.jpg
Ảnh: VNU-HUS

Sư phạm và khoa học cơ bản: không nên tách rời

Một vấn đề khác cần được nhìn nhận lại là quan hệ giữa trường sư phạm và trường khoa học. Sư phạm Toán không nên tách rời Toán học; Sư phạm Vật lí không thể tách khỏi Vật lí; Sư phạm Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí cũng tương tự. Một giáo viên giỏi trước hết phải có nền tảng chuyên môn vững chắc, đồng thời phải có năng lực khoa học giáo dục và nghiệp vụ nghề nghiệp.

Vì vậy, có thể hình dung một chuỗi liên kết: Khoa học chuyên môn → khoa học ứng dụng → khoa học giáo dục → nghiệp vụ sư phạm → thực hành nghề nghiệp. Đây chính là một trong những lợi thế đặc biệt của các đại học đa lĩnh vực.

Các trường sư phạm có thể phối hợp sâu với các trường khoa học để sử dụng chung đội ngũ, phòng thí nghiệm, học phần và nhóm nghiên cứu. Ngược lại, các nhà khoa học cơ bản cũng có thêm môi trường để nghiên cứu những vấn đề của giáo dục, dạy học và phát triển con người.

Tùy lịch sử hình thành và điều kiện cụ thể, có thể lựa chọn mô hình hai trường phân vai rõ ràng hoặc mô hình tổ chức gần gũi hơn giữa khoa học cơ bản và sư phạm. Nhưng dù mô hình nào, mục tiêu cuối cùng vẫn là khai thác tốt nhất đội ngũ khoa học và đào tạo được những giáo viên vừa giỏi chuyên môn, vừa giỏi nghề.

Trường kĩ thuật cần đi sâu hơn vào “tài năng công nghệ”

Một xu hướng khác cũng cần được quan tâm là định hướng của các trường kĩ thuật, công nghệ. Trong điều kiện thị trường lao động thay đổi nhanh, việc mở thêm nhiều ngành “hot” có thể giúp tuyển sinh trong ngắn hạn nhưng chưa chắc tạo nên năng lực lâu dài cho nhà trường và quốc gia.

Trường kĩ thuật cần được khuyến khích đi sâu hơn vào đào tạo kĩ sư tài năng, nhà công nghệ và những người có khả năng nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và làm chủ công nghệ. Thay vì chạy theo các ngành cử nhân đang có nhu cầu cao, cần đầu tư mạnh hơn cho những lĩnh vực nền tảng và chiến lược như bán dẫn, tự động hóa, robot, AI, vật liệu mới, năng lượng, công nghệ môi trường, sản xuất thông minh...

Giá trị của một trường kĩ thuật không chỉ nằm ở số lượng ngành được mở, mà ở khả năng tạo ra những công nghệ mới, sản phẩm mới và đội ngũ kĩ sư có năng lực giải quyết những bài toán chưa có sẵn lời giải.

Không nên xây dựng hệ thống bằng những đơn vị quá nhỏ

Một bài toán khác cần được cân nhắc trong quá trình sắp xếp là xu hướng hình thành những trường, viện hoặc khoa có quy mô nhỏ, phạm vi đào tạo hẹp. Một đơn vị nhỏ không phải lúc nào cũng kém hiệu quả. Một số lĩnh vực đặc thù, có tính chiến lược hoặc yêu cầu chuyên môn rất cao vẫn cần những đơn vị chuyên sâu. Tuy nhiên, với những ngành đào tạo dễ thay đổi theo xu hướng thị trường, việc liên tục thành lập các đơn vị nhỏ chỉ để mở một số ngành đang “hot” có thể tạo ra rủi ro về lâu dài.

Thị trường hôm nay cần một ngành, nhưng vài năm sau có thể xuất hiện một công nghệ mới làm thay đổi căn bản nhu cầu nhân lực. Trong khi đó, những nền tảng như toán học, khoa học cơ bản, kĩ thuật, ngôn ngữ, khoa học giáo dục và năng lực nghiên cứu vẫn có giá trị lâu dài.

Vì vậy, thay vì mở thêm nhiều đơn vị nhỏ, cần ưu tiên tạo ra những trường đủ lớn, đủ mạnh, có khả năng tái cấu trúc chương trình và thích ứng nhanh với sự thay đổi.

bkhcm.jpg
Ảnh minh họa: Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Đại học cần mạnh hơn ở vai trò kiến tạo hệ thống

Một đại học đa lĩnh vực mạnh không nhất thiết phải có thật nhiều khoa, viện, trung tâm trực thuộc đại học. Ở cấp đại học, nên tập trung nhiều hơn vào những chức năng mà một trường thành viên khó thực hiện một cách hiệu quả, như chiến lược phát triển, phân bổ nguồn lực, phát triển các chương trình nghiên cứu lớn, cơ sở dữ liệu dùng chung, cơ sở vật chất chiến lược, hợp tác quốc tế, đổi mới sáng tạo và xây dựng hệ sinh thái liên ngành.

Các trường thành viên là nơi tập trung vào đào tạo, nghiên cứu và phục vụ xã hội theo những lĩnh vực đã được định vị.

Theo hướng đó, có thể hình dung một kiến trúc tương đối tinh gọn: Đại học kiến tạo và điều phối hệ thống; trường thành viên phát triển các năng lực cốt lõi; khoa và viện thuộc trường thành viên tập trung chuyên môn sâu; các nguồn lực quan trọng được chia sẻ trong toàn hệ thống.

Một giảng viên giỏi không nhất thiết chỉ thuộc về một chương trình. Một phòng thí nghiệm tốt không nhất thiết chỉ phục vụ một trường. Một học phần chất lượng cao không nhất thiết chỉ dành cho sinh viên của một đơn vị. Chính khả năng chia sẻ đó mới tạo nên giá trị gia tăng của một đại học.

Từ cạnh tranh nội bộ đến cộng hưởng toàn hệ thống

Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới một mạng lưới giáo dục đại học tinh gọn, chất lượng và có khả năng cạnh tranh quốc tế, việc sắp xếp cơ sở giáo dục đại học công lập trong đó có các đại học quốc gia, đại học vùng và các đại học đa ngành cần được nhìn với một tầm nhìn dài hạn hơn.

Mục tiêu không nên chỉ là giảm số lượng đầu mối. Cũng không nên đơn giản là xóa bỏ tất cả những ngành có tên giống nhau. Điều quan trọng hơn là thiết kế lại sự phân công và hợp tác trong một chỉnh thể đại học.

Mỗi trường cần có một sứ mạng rõ, một thế mạnh đủ sâu và một lí do thuyết phục để tồn tại. Những lĩnh vực gần nhau cần được kết nối thay vì biệt lập. Những ngành cùng đào tạo cần tạo ra sự khác biệt về định hướng và chuyên sâu. Những nguồn lực đắt giá cần được chia sẻ. Những ngành mới cần được mở trên nền tảng khoa học vững chắc và khả năng thích ứng lâu dài.

Có thể cô đọng tinh thần đó bằng một nguyên tắc: Không nhất thiết “một ngành – một trường”, mà cần “một sứ mạng – một thế mạnh – một hệ sinh thái”. Và rộng hơn là một đại học đa lĩnh vực mạnh không phải là nhiều trường cùng làm nhiều việc giống nhau, mà là nhiều trường cùng phát huy những thế mạnh khác nhau để tạo nên một năng lực chung mà không trường nào có thể tạo ra một mình.

Đó cũng chính là ý nghĩa sâu xa của mô hình đại học đa lĩnh vực: không phải cộng cơ học các trường lại với nhau, mà là tạo ra sự cộng hưởng giữa các trường.

Nếu làm được điều đó, quá trình sắp xếp hệ thống giáo dục đại học sẽ không chỉ tạo ra một cơ cấu tinh gọn hơn, mà quan trọng hơn, sẽ tạo ra những đại học mạnh hơn, những trung tâm tri thức lớn hơn và một nền giáo dục đại học có khả năng đào tạo nhân tài, phát triển khoa học – công nghệ và đồng hành cùng sự phát triển của đất nước trong một thế giới đang thay đổi rất nhanh.

Hà Anh