Đại học tinh hoa không nên là một tấm biển được trao mà phải là năng lực được chứng minh liên tục

18/08/2026 06:22
Tường San

GDVN -Chuẩn của một đại học tinh hoa phải luôn “sống” cùng thời đại, nhưng các giá trị cốt lõi không được chạy theo công nghệ.

Theo dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục đại học, Việt Nam định hướng hình thành 3-5 cơ sở giáo dục đại học tinh hoa; khoảng 25-30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm chiến lược phục vụ theo lĩnh vực, vùng, ngành, địa phương và giữ vai trò dẫn dắt. Các cơ sở giáo dục đại học còn lại thực hiện nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Mỗi nhóm sẽ gắn với yêu cầu và nguồn lực đầu tư tương ứng.

Chính vì vậy, bài học kinh nghiệm từ những nước phát triển về giáo dục, đại học top đầu thế giới về mô hình đại học tinh hoa là rất quan trọng.

Phải xây dựng một hệ sinh thái buộc các đại học tinh hoa liên tục chứng minh năng lực

Dưới góc nhìn của chuyên gia đang công tác tại một trường đại học thuộc nhóm hàng đầu thế giới, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải - nhà khoa học vật liệu tại Đại học Quốc gia Singapore (NUS) thông tin, thực tiễn từ Singapore cho thấy, “đại học tinh hoa” không nhất thiết phải là danh hiệu do Nhà nước phong. Trên thực tế, Đại học Quốc gia Singapore và Đại học Công nghệ Nanyang là những đại học tự chủ, nhưng vị thế đã được tạo dựng thông qua cạnh tranh, đầu tư cho nghiên cứu, thu hút nhân tài và hợp tác quốc tế ở cấp độ cao. Điểm đáng tham khảo từ Singapore là Nhà nước không chỉ “chọn trường”, mà xây dựng một hệ sinh thái buộc các trường liên tục chứng minh năng lực.

Đại học Quốc gia Singapore (NUS) là một trong những trường đại học công lập hàng đầu Singapore. Trường được xếp hạng thứ 10 trong bảng xếp hạng QS World University Rankings 2027. [1]

Theo Phó Giáo sư Hải, trên thế giới không tồn tại một mô hình đại học tinh hoa duy nhất. Mỹ thiên về cạnh tranh và tự khẳng định; Anh đánh giá định kỳ chất lượng nghiên cứu, đào tạo; Trung Quốc tập trung nguồn lực chiến lược thông qua chương trình “Double First-Class”; Đức áp dụng cơ chế tuyển chọn, đánh giá lại và có thể đưa trường ra khỏi nhóm xuất sắc nếu không duy trì được chuẩn.

Vì vậy, Việt Nam cần tránh đồng nhất “đại học tinh hoa” với thứ hạng quốc tế hoặc một danh sách cố định.

tks7608-1.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Minh Hải - nhà khoa học vật liệu tại Đại học Quốc gia Singapore (NUS). Ảnh: NVCC

“Theo tôi, vị thế của một đại học tinh hoa được quyết định trước hết bởi con người, nguồn lực và quản trị. Trong đó, nhân tài là yếu tố số một. Đại học hàng đầu không đơn giản là nơi có nhiều phòng thí nghiệm hay nhiều bài báo, mà là nơi tập trung được mật độ cao những giảng viên, nhà khoa học, nghiên cứu sinh và sinh viên xuất sắc.

Do đó, vấn đề cốt lõi không phải là “đầu tư bao nhiêu tiền”, mà là làm thế nào để một nhà khoa học giỏi lựa chọn đại học của chúng ta thay vì MIT, Stanford, NUS, NTU... Muốn vậy, ngoài thu nhập cạnh tranh còn phải có quyền tự chủ học thuật, kinh phí khởi đầu, hạ tầng tốt, đồng nghiệp mạnh và môi trường cho phép theo đuổi những ý tưởng lớn”, thầy Hải nói.

Đặc biệt, theo thầy Hải, trong bối cảnh AI phát triển nhanh chóng, các tiêu chí đánh giá đại học tinh hoa có thể cũng sẽ thay đổi. Các trường hàng đầu như MIT, Stanford, NUS, Cambridge hay Thanh Hoa đều tổ chức lại hoạt động nghiên cứu theo hướng AI, dữ liệu và liên ngành.

Tuy nhiên, công nghệ có thể thay đổi rất nhanh còn những giá trị nền tảng vốn không thay đổi. Đó là chất lượng con người, tự do và liêm chính học thuật, quản trị tốt, năng lực tạo tri thức mới và đào tạo nhân tài. Chính vì vậy, chuẩn của một đại học tinh hoa phải luôn “sống” cùng thời đại, nhưng các giá trị cốt lõi không được chạy theo công nghệ.

Không những vậy, việc đánh giá cơ sở giáo dục đại học tinh hoa cũng không nên chỉ dựa vào thứ hạng quốc tế hay số lượng bài báo, mà cần tập trung vào nền tảng đào tạo - nhân tài, đào tạo tiến sĩ, hạ tầng nghiên cứu, quản trị minh bạch, tự chủ và năng lực thu hút nguồn lực; có những nhóm nghiên cứu đủ sức cạnh tranh quốc tế, tạo ra tri thức mới và đào tạo được thế hệ nhà khoa học tiếp theo; và tạo ra giá trị cho Việt Nam và thế giới.

Nhân tài, nguồn lực và mô hình quản trị hiệu quả là 3 yếu tố chiến lược

Trong khi đó, theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Nhật Nguyên - công tác tại Viện Kinh doanh Rouen, thuộc Đại học đa ngành Rouen Normandy (Pháp), trên thế giới vốn có thuật ngữ được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để chỉ những trường đại học đã đạt được các chuẩn về nghiên cứu, giảng dạy và tỉ lệ sinh viên tìm được việc làm ở tầm vóc quốc gia hoặc thế giới trên các bảng xếp hạng đại học uy tín. Đó là world-class university (đại học mang tầm vóc thế giới).

Theo nghiên cứu của Salmi (2009) cho Ngân hàng Thế giới (World Bank), học giả này đã định nghĩa “đại học mang tầm vóc thế giới” là đại học nghiên cứu đỉnh cao của hệ thống giáo dục toàn cầu, được quốc tế công nhận thông qua kết quả vượt trội trên ba phương diện: đào tạo những sinh viên tốt nghiệp có năng lực cao, được thị trường lao động trong nước và quốc tế săn đón; thực hiện các nghiên cứu tiên phong, được công bố trên những tạp chí khoa học hàng đầu thế giới; và đóng góp mạnh mẽ cho đổi mới công nghệ thông qua bằng sáng chế, giấy phép và chuyển giao công nghệ.

Nghiên cứu này cũng chỉ ra ba yếu tố bổ sung, kết hợp hài hòa, tạo nên đặc điểm chung của các trường đại học đẳng cấp thế giới. Đó là sự tập trung cao về nhân tài được quốc tế hóa, gồm đội ngũ giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên, qua đó hình thành mạng lưới tri thức toàn cầu; nguồn lực tài chính mạnh để phát triển cơ sở vật chất và hạ tầng số hiện đại; cùng mô hình quản trị đại học thuận lợi và khung pháp lý phù hợp, tạo điều kiện cạnh tranh, khuyến khích sáng tạo và phản ứng nhanh trước những thay đổi của thị trường lao động, thị trường tri thức.

558958077-10223595336671617-3228746775113565663-n.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Nhật Nguyên - công tác tại Viện Kinh doanh Rouen, thuộc Đại học đa ngành Rouen Normandy (Pháp). Ảnh: NVCC

“Nếu lấy định nghĩa “đại học mang tầm vóc thế giới” của Salmi (2009) làm cơ sở, ba yếu tố chiến lược để xây dựng và duy trì một “đại học mang tầm thế giới” là nhân tài, nguồn lực và mô hình quản trị hiệu quả”, Giáo sư Nguyên nói.

Nhìn từ thực tiễn ở Pháp, Giáo sư Nguyên cho hay, làn sóng cải cách và chuyển đổi giáo dục ở quốc gia này được khởi động từ năm 2010, hướng tới hình thành các trung tâm đào tạo đại học mang tầm vóc quốc tế. Nước Pháp đã gắn nhãn IDEX (Initiatives d’Excellence) và ISITE (Initiatives-Science-Innovation-Territoires-Economie) cho những cơ sở chứng minh được năng lực nghiên cứu xuất sắc, tính đa ngành, sức hút quốc tế, chất lượng đào tạo gắn với nghiên cứu và mô hình quản trị hiệu quả. Đồng thời, thúc đẩy các trường đại học tổng hợp, các trường lớn, trường kỹ sư và viện nghiên cứu quốc gia như CNRS, INSERM, CEA được hợp nhất, hình thành những đại học nghiên cứu quy mô lớn như Paris-Saclay hay Paris Sciences et Lettres (PSL).

Song song với IDEX và ISITE, Chính phủ và cơ quan Campus Pháp cũng sử dụng các bảng xếp hạng quốc tế như một thước đo thực tế để nhận diện những cơ sở có chất lượng mang tầm vóc thế giới.

Tuy nhiên, hiện nay, tại Pháp, số trường mang tầm thế giới theo định nghĩa của Salmi không nhiều, do đặc thù của hệ thống giáo dục đại học và nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu.

Bởi, giáo sư, phó giáo sư tại các trường đại học Pháp là công chức nhà nước, được hưởng mức độ tự do học thuật và nghiên cứu rất lớn, khiến việc buộc họ tuân thủ các chuẩn giảng dạy, nghiên cứu quốc tế trở thành thách thức. Để thay đổi điều này, Nhà nước Pháp và một số trường đại học đã thử nghiệm hình thức tuyển dụng mới, gần với mô hình tenure-track của Mỹ, song song chế độ phong hàm truyền thống, nhưng vấp phải sự phản đối từ giới đại học.

Rào cản thứ hai đến từ nguồn lực tài chính. Trong bối cảnh ngân sách công dành cho giáo dục đại học bị khống chế và phân bổ lại, các trường buộc phải tăng cường huy động nguồn lực ngoài ngân sách như đề tài, hợp tác doanh nghiệp, dịch vụ đào tạo, trong khi khả năng tăng học phí bị giới hạn bởi khung pháp lý về mức học phí thấp. Điều này khiến đầu tư cho nghiên cứu tại trường đại học Pháp trở nên khó khăn hơn. Chỉ một số trường như Paris-Saclay, PSL, Sorbonne, Paris Cité... thường xuyên xuất hiện ở nhóm thứ hạng cao trên các bảng xếp hạng quốc tế và được gắn nhãn IdEx/I-SITE, nên được xem là có tầm vóc quốc tế theo nghĩa của Salmi.

Từ những phân tích trên, Giáo sư Nguyên nhấn mạnh, việc xây dựng một đại học mang tầm vóc thế giới cần phù hợp với chính sách giáo dục và mô hình thể chế chính trị của từng quốc gia.

Ngoài ra, trong bối cảnh khoa học và trí tuệ nhân tạo đang phát triển nhanh chóng, Giáo sư Nguyên cũng cho rằng, cần bổ sung vào tiêu chí đánh giá đại học mang tầm vóc thế giới những yếu tố như chuẩn mực đạo đức trong nghiên cứu và sử dụng trí tuệ nhân tạo, quản trị rủi ro công nghệ và khung quản trị AI. Việc xây dựng hệ thống tiêu chí cụ thể cần tiếp tục được các nhà khoa học giáo dục nghiên cứu, đánh giá.

Đồng thời, các tiêu chí đánh giá cũng cần được cập nhật. Những chỉ số như số lượng công bố khoa học có thể không còn phản ánh đầy đủ năng lực của một trường. Do đó, cần xem xét thêm khả năng tạo ra công nghệ nền tảng, chia sẻ dữ liệu và hạ tầng nghiên cứu, chuyển giao tri thức, đào tạo nhân lực và giải quyết những vấn đề lớn của xã hội.

Tuy nhiên, tiêu chí cốt lõi là không thay đổi: một đại học mang tầm vóc thế giới phải có khả năng đi trước, kiến tạo tri thức mới và dẫn dắt sự phát triển của những lĩnh vực mà mình lựa chọn. Điều cần “xê dịch” là cách đo lường năng lực dẫn dắt, chứ không phải bản chất của năng lực này.

Đại học tinh hoa phải được xây bằng con người xuất sắc, thể chế tốt và sự đầu tư kiên trì

Mặt khác, theo Phó Giáo sư Dương Minh Hải, kinh nghiệm quốc tế cho thấy một số sai lầm rất dễ lặp lại khi xây dựng mô hình đại học tinh hoa.

avvs-nusoam-cover2.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: nus.edu.sg.

Thứ nhất, xây cơ sở vật chất trước khi xây năng lực học thuật. Một cơ sở vật chất, hạ tầng đẹp hay phòng thí nghiệm đắt tiền không tạo ra đại học tinh hoa nếu thiếu nhà khoa học giỏi, nhóm nghiên cứu mạnh và kinh phí vận hành dài hạn. Phải xây con người và chiến lược trước, xây hạ tầng sau.

Thứ hai, sao chép mô hình của các trường nổi tiếng. Việt Nam nên nhìn từ kinh nghiệm của MIT, Stanford, Oxford, NUS hay Thanh Hoa để hiểu nguyên lý thành công; không nên “copy-paste” chương trình, cơ cấu tổ chức hay mô hình quản trị nào.

Thứ ba, biến “tinh hoa” thành một danh hiệu hành chính. Nếu cơ sở giáo dục đại học được công nhận một lần rồi giữ vị thế vĩnh viễn, danh hiệu rất dễ trở thành đặc quyền về nguồn lực. Vì vậy phải có cơ chế rõ ràng: lựa chọn – đánh giá – gia hạn – và rời chương trình nếu không còn đạt chuẩn.

Thứ tư, chạy theo ranking và KPI bài báo. Xếp hạng quốc tế nên được xem như một chỉ báo tham khảo, không phải tay lái chiến lược. Một đại học tinh hoa phải hỏi “chúng ta tạo ra tri thức và giá trị gì?”, chứ không chỉ hỏi “ranking tăng bao nhiêu bậc?”

Thứ năm, dàn trải nguồn lực và kỳ vọng kết quả dài hạn bằng tài trợ ngắn hạn. Việt Nam nên chọn ít lĩnh vực nhưng đầu tư đủ sâu để tạo giá trị, đồng thời bảo đảm nguồn lực ổn định trong nhiều năm. Không thể xây một nhóm nghiên cứu đẳng cấp quốc tế bằng những dự án rời rạc 12 tháng.

Đặc biệt, bài học lớn nhất là, đại học tinh hoa không được xây bằng danh hiệu, tòa nhà hay bảng xếp hạng mà phải được xây bằng con người xuất sắc, thể chế tốt và sự đầu tư kiên trì trong nhiều năm.

Để mô hình đại học tinh hoa được hình thành phù hợp với thực tiễn Việt Nam, Phó Giáo sư Dương Minh Hải cho rằng, cần xây dựng “hợp đồng xuất sắc” thay vì chỉ công bố danh sách các trường tinh hoa. Mỗi trường nên có một cam kết chiến lược dài hạn với Nhà nước, bao gồm các tiêu chuẩn chung và mục tiêu riêng phù hợp với thế mạnh.

Đồng thời, cần thiết lập cơ chế đánh giá thực sự độc lập, với sự tham gia của giới khoa học. Hội đồng đánh giá nên có sự góp mặt của các nhà khoa học, lãnh đạo đại học quốc tế và chuyên gia Việt Nam, đảm nhiệm việc thẩm định chiến lược, đánh giá giữa kỳ và quyết định khả năng tiếp tục đầu tư.

Hơn nữa, cần có cơ chế tài chính riêng cho các đại học nghiên cứu tinh hoa; không thể yêu cầu nghiên cứu đỉnh cao nhưng lại áp dụng cơ chế tài trợ ngắn hạn, phân tán; nguồn lực cần được kết hợp giữa đầu tư nền tảng dài hạn, tài trợ cạnh tranh, phát triển hạ tầng và các gói chính sách thu hút nhân tài.

Ngoài ra, Việt Nam cần hình thành một thị trường nhân tài học thuật thực sự. Để cạnh tranh với các đại học tinh hoa trên thế giới, các trường không chỉ cần chính sách tiền lương tốt mà còn phải cung cấp kinh phí khởi đầu, nghiên cứu sinh, postdoc, hạ tầng và quyền tự chủ nghiên cứu cho các nhà khoa học.

Đặc biệt, cần đầu tư mạnh cho các nhà khoa học trẻ trong độ tuổi 30-40, thay vì chỉ tập trung thu hút những tên tuổi đã thành danh; đồng thời những hạ tầng nghiên cứu có chi phí rất lớn nên được xây dựng theo mô hình dùng chung cấp quốc gia.

Không chỉ với giảng viên và nhà khoa học, ngay cả với sinh viên cũng cần có những chính sách ưu tiên. Bởi, tinh hoa phải được xác định bằng năng lực, không phải khả năng chi trả. Một sinh viên xuất sắc không nên mất cơ hội học tập chỉ vì hoàn cảnh kinh tế. Với đại học tinh hoa, học bổng và hỗ trợ tài chính không chỉ là chính sách xã hội mà còn là chính sách thu hút nhân tài.

Đặc biệt, AI không nên chỉ được xem là một ngành học mà cần được tích hợp vào nghiên cứu, đào tạo, dữ liệu, quản trị và các lĩnh vực khoa học.

Phó Giáo sư Hải cũng cho rằng, những đại học hàng đầu thế giới như MIT, Stanford, Oxford, Cambridge, NUS, NTU, Thanh Hoa... là những mô hình khác nhau, nhưng đều cho thấy một điểm chung - đại học hàng đầu phải liên tục đổi mới, thu hút nhân tài và tạo ra giá trị vượt ra ngoài khuôn viên trường.

Đối với Việt Nam, càng không nên “phong” đại học tinh hoa. Thay vào đó, cần tạo điều kiện để những trường thực sự xuất sắc hình thành, cạnh tranh để được công nhận, được đầu tư đủ mạnh và liên tục chứng minh năng lực.

“Khi thế giới tìm đến đại học Việt Nam vì con người, tri thức và những khám phá mà chúng ta tạo ra, đó mới là dấu hiệu thuyết phục nhất của một đại học tinh hoa”, Phó Giáo sư Hải nhấn mạnh.

Còn theo Giáo sư Nguyễn Nhật Nguyên, trong các nghiên cứu của mình, Salmi (2009) đã chỉ ra một sai lầm rất hay gặp, đó là việc nhiều trường đại học tập trung nguồn vốn vào xây dựng cơ sở vật chất hoành tráng và các thiết bị hiện đại, nhưng không tập trung vào việc thiết kế một mô hình quản trị, chương trình đào tạo và chiến lược phát triển đội ngũ nhân tài, nhất là các nhà nghiên cứu và các sinh viên tài năng.

Do đó, việc xây dựng thương hiệu đại học mang tầm vóc thế giới phải đi kèm với một chiến lược quản lý khoa học và đào tạo nhân tài thực chất, phù hợp với nhu cầu của quốc gia và của thế giới.

Ngoài ra, theo quan sát, Giáo sư Nguyên cho rằng, tại trường đại học nơi thầy đang làm việc, một rào cản rất lớn để xây dựng trường địa phương thành một trường có tầm vóc quốc tế là văn hóa tổ chức của trường.

Trong khi đó, chiến lược xây dựng đại học mang tầm vóc quốc tế phải đi kèm với việc xây dựng một văn hoá nghiên cứu và giảng dạy chất lượng cao; mô hình quản trị đại học phải được xây dựng một cách khéo léo để gắn kết toàn thể nhân sự, đội ngũ giảng viên, và sinh viên đi theo mục tiêu quốc tế hoá.

Tài liệu tham khảo:

[1]: https://www.topuniversities.com/universities/national-university-singapore-nus

Tường San