Bộ Tài chính soạn thảo dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng dành cho học sinh, sinh viên. Theo đó, Bộ Tài chính đề nghị điều chỉnh mức cho vay tối đa từ 4 triệu đồng/tháng lên 8 triệu đồng/tháng (tương đương mức hỗ trợ khoảng 60% tổng chi phí sinh hoạt và học phí tối đa một tháng là 13,75 triệu đồng).
Đối với mức cho vay cụ thể cho từng trường hợp, giao Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét, quyết định căn cứ vào mức thu học phí của từng trường và sinh hoạt phí theo từng địa bàn nhưng không vượt quá mức cho vay tối đa nêu trên là 8 triệu đồng/tháng.[1]
Đại diện các trường đại học nhận định, chính sách này sẽ góp phần giảm bớt gánh nặng tài chính và tạo điều kiện để sinh viên yên tâm học tập.
Mức vay tối đa 8 triệu đồng/tháng là phù hợp với chi phí thực tế
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Thị Thu Giang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hạ Long cho hay: “Tôi cho rằng đề xuất nâng mức vay tối đa từ 4 triệu đồng lên 8 triệu đồng/tháng là phù hợp với thực tế chi phí học tập và sinh hoạt của sinh viên hiện nay.
Chi phí học tập và sinh hoạt của sinh viên ngày càng tăng, bao gồm học phí, tiền thuê nhà, ăn uống, đi lại, tài liệu và các chi phí phục vụ học tập. Đặc biệt, đối với sinh viên học xa nhà, phải thuê trọ hoặc theo học những ngành có chi phí đào tạo cao, mức vay 4 triệu đồng/tháng có thể không còn đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thực tế của một bộ phận sinh viên.
Nếu được nâng mức vay tối đa lên 8 triệu đồng/tháng, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn sẽ có thêm nguồn lực để trang trải học phí và chi phí sinh hoạt, qua đó giảm áp lực tài chính cho gia đình, giúp sinh viên yên tâm học tập và hạn chế nguy cơ phải tạm dừng hoặc bỏ học do khó khăn về kinh tế”.
Cùng bàn luận về vấn đề này, Thạc sĩ Cù Xuân Tiến - Trưởng phòng, Phòng Tuyển sinh và Công tác sinh viên, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng đề xuất là hợp lý và cần sớm được ban hành.
Theo thầy Tiến, mức trần 4 triệu đồng/tháng được quy định tại Quyết định 05/2022/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên đã hơn 4 năm chưa được điều chỉnh. Trong khi đó, học phí đại học tăng theo lộ trình, còn chi phí sinh hoạt tại các đô thị lớn liên tục gia tăng.
"Tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, học phí chương trình tiếng Việt khóa tuyển sinh 2026 là 35,8 triệu đồng/năm, tính bình quân khoảng 3,6 triệu đồng/tháng. Nghĩa là khoản vay hiện hành vừa đủ đóng học phí, phần ăn ở và đi lại tại Thành phố Hồ Chí Minh gia đình phải tự lo hoàn toàn.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, chi phí học tập và sinh hoạt của sinh viên hiện khoảng 13,75 triệu đồng/tháng; mức vay 8 triệu đáp ứng khoảng 60% con số đó, đủ để khoản vay làm đúng vai trò là chỗ dựa chính chứ không chỉ là khoản bù thêm" - thầy chia sẻ.
Bên cạnh đó, dự thảo có một số điểm thầy đánh giá rất cao. Trong đó, Ngân hàng Chính sách xã hội sẽ căn cứ mức học phí của từng cơ sở đào tạo và chi phí sinh hoạt theo từng địa bàn để quyết định mức cho vay cụ thể trong trần 8 triệu, thay vì áp một con số cứng cho cả nước.
Đối tượng được bổ sung thêm sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ, sinh viên có cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự hoặc không còn khả năng lao động, và cho phép người học trực tiếp đứng tên vay khi hộ gia đình không còn thành viên đủ 18 tuổi.
Lợi ích rõ nhất với sinh viên là giảm nguy cơ bỏ học giữa chừng vì tài chính và giảm tình trạng làm thêm quá nhiều giờ ảnh hưởng kết quả học tập.
Cũng theo thầy, có một điểm cần theo dõi: dự thảo chuyển từ lãi suất cố định sang lãi suất bằng lãi suất cho vay hộ nghèo theo từng thời kỳ (mức cho vay sinh viên hiện hành là 6,24%/năm theo Quyết định 2553/QĐ-TTg, áp dụng từ ngày 01/12/2025). Cơ chế này minh bạch, nhưng cơ quan điều hành cần giữ nguyên tắc đây là lãi suất ưu đãi thật sự cho người học.
Việc dư nợ dự kiến tăng khoảng 24.000 tỷ đồng giai đoạn 2026-2030 cũng đòi hỏi bố trí nguồn vốn đủ và giải ngân kịp thời điểm đóng học phí.
Cần nghiên cứu mở rộng đối tượng được cho vay tín dụng
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Thị Thu Giang chia sẻ, ngoài việc điều chỉnh mức vay phù hợp với chi phí học tập và sinh hoạt thực tế, để chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên phát huy hiệu quả hơn, cần quan tâm đồng bộ đến khả năng tiếp cận vốn và cơ chế hoàn trả sau khi tốt nghiệp.
Trước hết, cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh số hóa, kết nối và chia sẻ những dữ liệu cần thiết giữa cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý và ngân hàng theo quy định. Nếu những thông tin về tình trạng học tập, ngành học, học phí và các nội dung liên quan có thể được xác nhận, trao đổi thuận lợi hơn trên môi trường số, sinh viên sẽ giảm được giấy tờ và thời gian thực hiện thủ tục vay vốn.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu cơ chế phù hợp để mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng đối với những sinh viên có áp lực tài chính nhưng chưa thuộc các nhóm đối tượng được thụ hưởng chính sách hiện hành. Điều quan trọng là chính sách có thể nhận diện đúng những trường hợp cần hỗ trợ, để khó khăn về kinh tế không trở thành rào cản đối với cơ hội học tập của người học.
Cuối cùng, chính sách tín dụng sinh viên cũng cần tính đến khả năng trả nợ thực tế sau khi tốt nghiệp. Có thể nghiên cứu cơ chế trả nợ, gia hạn nợ phù hợp hơn đối với những trường hợp chưa tìm được việc làm hoặc có thu nhập ban đầu còn thấp.
Khi đó, chính sách tín dụng không chỉ giúp sinh viên tiếp cận nguồn lực để hoàn thành quá trình học tập mà còn tạo điều kiện để các em có khoảng thời gian hợp lý ổn định việc làm, thu nhập và thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Từ thực tiễn tại cơ sở đào tạo, thầy Cù Xuân Tiến cho rằng cần xem xét 4 nhóm giải pháp nhằm mở rộng khả năng tiếp cận và nâng cao hiệu quả chính sách tín dụng sinh viên.
Thứ nhất, cần mở rộng đối tượng được vay vốn, xem xét cơ chế xét vay dựa trên kết quả học tập và cam kết của người học, thay vì chỉ dựa vào chuẩn hộ nghèo.
Điển hình tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, sinh viên không thuộc đối tượng ưu tiên vẫn có thể tiếp cận chương trình “ACB đồng hành cùng sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh”.
Chương trình dành cho sinh viên chính quy có điểm học tập từ 6,0/10 và điểm rèn luyện từ 70/100 trong học kỳ gần nhất, đồng thời không bị kỷ luật. Khoản vay không yêu cầu tài sản bảo đảm, học phí được giải ngân trực tiếp về trường. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ 3,5%/năm tiền lãi, nên sinh viên thực tế chỉ phải trả mức lãi suất 2%/năm.
Ngoài ra, sinh viên ngành Công nghệ tài chính có thể tham gia chương trình tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất tham khảo tại tháng 6/2026 chỉ là 4,8%/năm.
Thứ hai, cần xây dựng cơ chế điều chỉnh mức trần cho vay định kỳ, gắn với lộ trình tăng học phí và biến động chỉ số giá. Theo đó, chính sách sẽ hạn chế tình trạng mức trần vay không được điều chỉnh trong nhiều năm, khiến giá trị thực tế của khoản vay ngày càng giảm.
Thứ ba, có thể nghiên cứu phương án giải ngân phần học phí trực tiếp cho cơ sở đào tạo theo từng học kỳ, tương tự cách chương trình tín dụng của Ngân hàng ACB phối hợp với Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đang thực hiện. Cách làm này vừa góp phần bảo đảm nguồn vốn được sử dụng đúng mục đích, vừa giảm thủ tục và áp lực tài chính cho gia đình sinh viên.
Thứ tư, cần tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở đào tạo và Ngân hàng Chính sách xã hội, qua đó thực hiện xác nhận tình trạng đang theo học theo hình thức trực tuyến, thay cho việc sinh viên phải xin giấy xác nhận của nhà trường hằng năm.
Về lâu dài, thầy Tiến cho rằng Nhà nước nên khuyến khích nhân rộng mô hình các trường đại học phối hợp với ngân hàng thương mại xây dựng quỹ cho vay học tập có cơ chế cấp bù lãi suất. Khi đó, bên cạnh kênh tín dụng chính sách, sinh viên sẽ có thêm lựa chọn vay vốn phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình.