Chính sách tín dụng sinh viên cần mở rộng đối tượng, nâng mức cho vay

20/08/2026 09:53
Trần Trang
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Theo đại diện các trường đại học, sinh viên không thuộc đối tượng ưu tiên vẫn có nhu cầu chính đáng được vay vốn tín dụng để trang trải chi phí học tập.

Theo quy định tại Điều 2, Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg và Điều 1, Quyết định số 05/2022/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên, đối tượng được hỗ trợ vay vốn là học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm:

Thứ nhất, sinh viên mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng lao động.

Thứ hai, sinh viên là thành viên của hộ gia đình thuộc một trong các đối tượng: Hộ nghèo theo chuẩn quy định của pháp luật; Hộ cận nghèo theo chuẩn quy định của pháp luật; Hộ có mức sống trung bình theo chuẩn quy định của pháp luật.

Thứ ba, sinh viên mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh trong thời gian theo học có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú.[1].

Dù vậy, trên thực tế, nhiều sinh viên không thuộc diện ưu tiên kể trên vẫn có nhu cầu vay vốn để trang trải học phí và chi phí sinh hoạt. Vì lẽ đó, đại diện một số trường đại học đề xuất mở rộng đối tượng tiếp cận, nâng cao hiệu quả chính sách tín dụng, qua đó tạo thêm nguồn lực tài chính để sinh viên có thể yên tâm học tập.

Sinh viên không thuộc đối tượng ưu tiên vẫn có nhu cầu vay vốn

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó giáo sư, Tiến sĩ Đàm Xuân Vận - Trưởng phòng, Phòng Công tác Sinh viên của Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên cho biết, do có số lượng lớn sinh viên đến từ khu vực trung du, miền núi và nông thôn, hỗ trợ tài chính cho người học luôn là một nội dung được nhà trường đặc biệt quan tâm.

Hiện nay, trường triển khai đầy đủ các chính sách miễn, giảm học phí của Nhà nước đối với các đối tượng theo quy định. Đồng thời, Phòng Công tác Sinh viên phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội và chính quyền địa phương để hướng dẫn sinh viên hoàn thiện hồ sơ vay vốn tín dụng ưu đãi, bảo đảm các em tiếp cận chính sách thuận lợi.

1786940458393-4694351761498140850-4694351761498140850-63529a9358cd8cd195ec7edc0697e3b5.jpg
Phó giáo sư, Tiến sĩ Đàm Xuân Vận - Trưởng phòng, Phòng Công tác Sinh viên của Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên. Ảnh: NVCC

“Trong quá trình tiếp nhận và tư vấn cho sinh viên, chúng tôi nhận thấy có một nhóm khá đặc thù: các em không thuộc diện hưởng chính sách ưu tiên nhưng gia đình vẫn gặp áp lực tài chính. Nhiều trường hợp bố mẹ làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định hoặc cùng lúc nuôi hai, ba con học đại học nên chi phí học tập trở thành áp lực.

Đối với nhóm này, nhà trường chủ động hỗ trợ xác nhận tình trạng học tập để sinh viên hoàn thiện các thủ tục theo quy định, đồng thời kết nối các em với các nguồn học bổng, cơ hội việc làm, chương trình thực tập trong và ngoài nước và các quỹ hỗ trợ sinh viên khi có điều kiện. Chúng tôi cũng tăng cường tư vấn ngay từ thời điểm nhập học để sinh viên nắm được đầy đủ các chính sách mà mình có thể tiếp cận.

Từ thực tiễn công tác, tôi cho rằng khoảng trống lớn nhất hiện nay nằm ở nhóm sinh viên có hoàn cảnh khó khăn nhưng chưa thuộc diện ưu tiên theo quy định. Đây là nhóm rất cần được mở rộng cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng với thủ tục thuận lợi hơn, để các em có thể yên tâm học tập mà không phải gián đoạn việc học vì áp lực tài chính” - thầy Vận bày tỏ.

Cùng bàn về vấn đề này, Thạc sĩ Trần Nam - Trưởng phòng, Phòng Công tác Sinh viên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, nhiều sinh viên gặp khó khăn về tài chính, trong khi chi phí học tập và sinh hoạt ngày càng cao.

Trước thực tế đó, nhà trường xác định việc tìm kiếm, huy động các nguồn lực xã hội để hỗ trợ sinh viên là một trong những nhiệm vụ được ưu tiên, nhằm góp phần giảm bớt gánh nặng tài chính và bảo đảm điều kiện để sinh viên duy trì việc học, hạn chế nguy cơ phải gián đoạn hoặc từ bỏ việc học vì khó khăn kinh tế.

“Hiện nay, nhà trường phối hợp với nhiều đối tác là doanh nghiệp trong và ngoài nước, cộng đồng cựu sinh viên và các nhà tài trợ để triển khai đa dạng các chương trình học bổng, qua đó hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ chi phí học tập cho những sinh viên đáp ứng các tiêu chí của từng chương trình. Các nguồn hỗ trợ này không chỉ góp phần giảm áp lực tài chính mà còn tạo thêm động lực để sinh viên nỗ lực học tập, rèn luyện và phát triển bản thân.

Bên cạnh học bổng, nhà trường cũng triển khai các giải pháp hỗ trợ về tín dụng học tập, tạo thêm lựa chọn cho sinh viên. Trong đó có các chương trình vay vốn không lãi suất từ Quỹ Phát triển Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và các chương trình cho vay có hỗ trợ lãi suất thông qua các ngân hàng. Qua đó, sinh viên có thể tiếp cận nguồn vốn với điều kiện thuận lợi hơn, chủ động hơn trong việc bảo đảm chi phí học tập trong suốt quá trình theo học” - thầy Nam bày tỏ.

574270388-1267411638747480-177114263466688748-n.jpg
Thạc sĩ Trần Nam - Trưởng phòng, Phòng Công tác Sinh viên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là 1 trong những cơ sở giáo dục đại học tiên phong cho sinh viên vay vốn tín dụng bất kể điều kiện kinh tế gia đình.

Thạc sĩ Trần Việt Toàn - Trưởng phòng, Phòng Công tác Sinh viên của Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho hay: “Nhằm hỗ trợ những sinh viên không thuộc diện chính sách nhưng vẫn gặp khó khăn về tài chính, nhà trường hiện triển khai ba chương trình trọng tâm.

Thứ nhất là chương trình học bổng do doanh nghiệp tài trợ. Hằng năm, các doanh nghiệp đồng hành cùng nhà trường cấp nguồn học bổng dành cho sinh viên. Căn cứ vào các tiêu chí và quy định hiện hành, trường sẽ xét chọn và trao học bổng cho những sinh viên đủ điều kiện.

Thứ hai là chương trình gia hạn thời gian đóng học phí. Đối với những trường hợp phát sinh khó khăn tài chính đột xuất, sinh viên có thể gửi đơn đề nghị để nhà trường xem xét. Nếu được chấp thuận, thời hạn đóng học phí có thể được gia hạn tối đa 6 tháng.

Thứ ba, cũng là chương trình có quy mô và sức lan tỏa lớn nhất hiện nay, là chương trình bảo lãnh vay vốn và hỗ trợ lãi suất do nhà trường phối hợp với cộng đồng cựu sinh viên triển khai. Điểm đáng chú ý của chương trình là mở rộng đối tượng thụ hưởng cho tất cả sinh viên Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo đánh giá của tôi, đây là mô hình hỗ trợ tài chính mang tính đặc thù, góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận nguồn vốn cho sinh viên và hiện chưa có nhiều trường đại học trên cả nước áp dụng ở quy mô tương tự”.

344858006-1385414768977135-7389916322977889130-n-3822.jpg
Thạc sĩ Trần Việt Toàn - Trưởng phòng, Phòng Công tác Sinh viên của Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Theo thầy Toàn, không phải tất cả sinh viên có nhu cầu vay vốn đều thuộc diện khó khăn về kinh tế. Có những sinh viên muốn chủ động nguồn kinh phí học tập, giảm áp lực tài chính cho gia đình hoặc tăng tính tự lập trong quá trình học đại học. Vì vậy, chương trình được xây dựng theo hướng tạo thêm một lựa chọn tài chính cho sinh viên, thay vì chỉ tập trung vào nhóm có hoàn cảnh khó khăn.

Sinh viên có thể làm thủ tục vay vốn hoàn toàn trực tuyến. Tất cả sinh viên năm nhất có nhu cầu đều được vay vốn mà không cần đáp ứng yêu cầu nào. Từ năm thứ hai trở đi, sinh viên phải có kết quả học tập của học kỳ liền kề trước đó đạt từ trung bình trở lên.

Hạn mức vay được xác định dựa trên học phí thực tế của từng chương trình đào tạo. Theo đó, sinh viên chương trình tiêu chuẩn với học phí khoảng 15-16 triệu đồng/học kỳ, hay sinh viên các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh, có mức học phí hơn 40 triệu đồng/học kỳ, đều có thể được vay tương ứng với học phí thực tế. Thời hạn hoàn trả khoản vay là 2 năm kể từ thời điểm giải ngân.

Sau khi được xét duyệt, sinh viên sẽ ký hợp đồng vay với ngân hàng với mức lãi suất khoảng 6%/năm. Tuy nhiên, toàn bộ tiền lãi sẽ được cộng đồng cựu sinh viên hoàn lại sau khi sinh viên hoàn tất việc tất toán khoản vay.

Bên cạnh chính sách hỗ trợ lãi suất, chương trình còn có cơ chế khuyến khích sinh viên duy trì kết quả học tập tốt. Những sinh viên đạt thành tích học tập giỏi hoặc xuất sắc có thể được xem xét nhận thêm học bổng từ chương trình. Qua đó, việc hỗ trợ tài chính không chỉ giúp sinh viên giải quyết nhu cầu trước mắt mà còn khuyến khích các em duy trì kết quả học tập trong suốt quá trình đào tạo.

Kỳ vọng điều chỉnh chính sách tín dụng cho sinh viên

Tháng 8/2026, Bộ Tài chính đã soạn thảo dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng dành cho học sinh, sinh viên. Theo đó, Bộ Tài chính đề nghị điều chỉnh mức cho vay tối đa từ 4 triệu đồng/tháng lên 8 triệu đồng/tháng (tương đương mức hỗ trợ khoảng 60% tổng chi phí sinh hoạt và học phí tối đa một tháng là 13,75 triệu đồng).

Đối với mức cho vay cụ thể cho từng trường hợp, giao Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét, quyết định căn cứ vào mức thu học phí của từng trường và sinh hoạt phí theo từng địa bàn nhưng không vượt quá mức cho vay tối đa nêu trên là 8 triệu đồng/tháng.[2]

776497620-1659904128858749-4132131662406468740-n.jpg
Tân sinh viên đến làm thủ tục nhập học tại Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Website nhà trường

Thầy Vận bày tỏ, nâng mức vay tối đa từ 4 triệu đồng lên 8 triệu đồng mỗi tháng là một điều chỉnh phù hợp với bối cảnh hiện nay. Sau nhiều năm, chi phí học tập và sinh hoạt của sinh viên đã có nhiều thay đổi, từ tiền thuê nhà, ăn ở, đi lại đến chi phí học tập, thực hành, tài liệu và các khoản phục vụ chuyển đổi số trong học tập. Mức vay 4 triệu đồng/tháng trước đây ở nhiều trường hợp đã không còn đáp ứng đủ nhu cầu thực tế của sinh viên.

“Việc nâng hạn mức vay sẽ giúp các em có thêm nguồn lực để duy trì việc học, giảm áp lực phải làm thêm quá nhiều và có điều kiện tập trung hơn cho học tập, nghiên cứu cũng như các hoạt động thực hành nghề nghiệp.

Đặc biệt, nhiều chương trình thực tập ở nước ngoài theo các thỏa thuận hợp tác của nhà trường có hỗ trợ chi phí hoặc tạo thu nhập cho sinh viên, nhưng giai đoạn chuẩn bị ban đầu vẫn cần một khoản kinh phí nhất định để các em hoàn thiện hồ sơ, ngoại ngữ và các thủ tục liên quan. Nguồn vốn tín dụng được nâng lên sẽ góp phần tạo điều kiện để nhiều sinh viên mạnh dạn tham gia những cơ hội học tập và trải nghiệm nghề nghiệp này” - thầy Vận bày tỏ.

Tuy nhiên, thầy Vận chỉ ra, hiệu quả của chính sách không chỉ nằm ở việc tăng hạn mức vay mà còn ở khả năng tiếp cận. Nếu thủ tục được đơn giản hóa, thời gian giải ngân kịp thời và việc xác nhận giữa nhà trường, địa phương và Ngân hàng Chính sách xã hội được thực hiện thuận lợi, thì chính sách sẽ phát huy hiệu quả cao hơn và thực sự trở thành điểm tựa để sinh viên yên tâm học tập, phát triển nghề nghiệp.

Để chính sách tín dụng học sinh, sinh viên phát huy hiệu quả hơn, cần quan tâm đồng thời đến ba yếu tố: mở rộng khả năng tiếp cận, đơn giản hóa thủ tục và tăng tính gắn kết với quá trình học tập, việc làm của sinh viên.

Mục tiêu của chính sách tín dụng không chỉ là giúp sinh viên có tiền đóng học phí, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để các em yên tâm học tập, phát triển kỹ năng, tiếp cận môi trường làm việc hiện đại và tự tin bước vào thị trường lao động sau khi ra trường. Khi đó, chính sách sẽ mang ý nghĩa đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao, chứ không chỉ đơn thuần là một chính sách hỗ trợ tài chính.

Theo thầy Nam, mức vay tối đa 4 triệu đồng/tháng hiện đã không còn đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế của sinh viên. Nếu đề xuất nâng mức vay tối đa lên 8 triệu đồng/tháng đối với học sinh, sinh viên được thông qua, đây sẽ là tín hiệu tích cực, góp phần tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách và giảm áp lực tài chính cho người học.

Bên cạnh việc nâng hạn mức vay, thầy Nam cho rằng chính sách cũng cần có cơ chế điều chỉnh định kỳ, chẳng hạn khoảng 2 năm một lần, nhằm bảo đảm mức vay theo kịp biến động của giá cả, chi phí sinh hoạt và mức tăng học phí tại các cơ sở giáo dục. Việc này sẽ giúp chính sách duy trì tính thực tiễn, tránh tình trạng hạn mức vay nhanh chóng trở nên lạc hậu sau một thời gian áp dụng.

Đặc biệt, cần nghiên cứu xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung giữa cơ sở giáo dục và Ngân hàng Chính sách xã hội để cập nhật, theo dõi tình hình học tập cũng như nhu cầu hỗ trợ của sinh viên. Khi có cơ chế chia sẻ dữ liệu phù hợp, các bên có thể chủ động hơn trong việc nhận diện những trường hợp gặp khó khăn, từ đó kịp thời triển khai các giải pháp hỗ trợ, hạn chế nguy cơ sinh viên phải gián đoạn việc học vì áp lực tài chính.

Về vấn đề này, thầy Toàn chỉ ra, tổng số tiền vay trong suốt quá trình học có thể lên tới trăm triệu đồng, kéo theo khoản lãi phải trả không nhỏ. Do đó, cần nghiên cứu các chương trình vay vốn với lãi suất 0% nhằm giảm áp lực tài chính cho sinh viên và gia đình.

Bên cạnh đó, thầy đề xuất kéo dài thời gian trả nợ đến sau 5 năm kể từ khi sinh viên tốt nghiệp. Đây là khoảng thời gian cần thiết để các em ổn định việc làm, có thu nhập và chủ động hơn về tài chính trước khi bắt đầu trả nợ.

Ngoài ra, cần đồng thời đẩy mạnh truyền thông về chính sách vay vốn học tập. Tại nhiều quốc gia, vay tín dụng để học đại học là một điều rất phổ biến. Nhưng ở Việt Nam, nhiều gia đình vẫn còn tâm lý lo ngại. Vì vậy, cần từng bước thay đổi nhận thức, giúp sinh viên và gia đình hiểu rằng vay vốn là một lựa chọn tài chính bình thường, hợp lý, qua đó mạnh dạn tiếp cận chính sách khi có nhu cầu.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2022/03/05-2022-qd-ttg.signed.pdf

[2] https://moj.gov.vn/portal/tin-tuc/chi-tiet/ho-so-tham-inh-du-thao-quyet-inh-cua-thu-tuong-chinh-phu-ve-tin-dung-oi-voi-hoc-sinh-sinh-vien-tjae4le527.html

Trần Trang