Đề xuất 01 mức trần học phí, chuyên gia đánh giá không gây ảnh hưởng đến quyền tự chủ của CSGDĐH

03/09/2026 06:21
Ngọc Mai

GDVN - Chuyên gia đồng tình đề xuất đưa mức trần học phí đối với cơ sở giáo dục đại học tự bảo đảm chi thường xuyên và cơ sở giáo dục đại học tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư về cùng một mức.

Theo Điều 10, Nghị định số 238/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, mức học phí tối đa đối với cơ sở giáo dục đại học công lập được xác định theo mức độ tự chủ tài chính. Cụ thể, cơ sở giáo dục đại học công lập tự bảo đảm chi thường xuyên được áp dụng mức học phí tối đa bằng 2 lần mức trần học phí của cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên; cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được áp dụng mức tối đa bằng 2,5 lần mức trần này.

Tại Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 3/9/2025 của Chính phủ đang đề xuất điều chỉnh theo hướng thống nhất 01 mức trần học phí đối với hai nhóm cơ sở giáo dục đại học công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư.

Theo đó, cả hai nhóm cơ sở được áp dụng mức học phí tối đa bằng 2,5 lần mức trần học phí của cơ sở giáo dục đại học công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, tương ứng với từng khối ngành và từng năm học.

Đề xuất này đang nhận được sự đồng tình từ các chuyên gia giáo dục. Việc thống nhất mức trần học phí giữa hai nhóm cơ sở có mức độ tự chủ tài chính cao hơn sẽ phù hợp với định hướng hoàn thiện cơ chế tự chủ đại học, đồng thời bảo đảm tính thống nhất với các quy định pháp luật hiện hành.

Bảo đảm công bằng trong giáo dục

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa – nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ sự đồng tình với đề xuất đưa mức trần học phí đối với cơ sở giáo dục đại học tự bảo đảm chi thường xuyên và cơ sở giáo dục đại học tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư về cùng một mức.

Bởi, việc điều chỉnh theo hướng này có thể tạo ra hiệu quả tổng thể, bảo đảm sự hài hòa giữa yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước trong điều tiết giá các dịch vụ thiết yếu và yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người học.

thay-nghia.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa – nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

“Trong bối cảnh học phí là khoản chi có tác động trực tiếp đến khả năng tiếp cận giáo dục đại học, việc xác định một mức trần chung đối với các cơ sở có mức độ tự chủ tài chính cao cần hướng tới sự cân bằng giữa quyền tự chủ của các trường và trách nhiệm kiểm soát của Nhà nước đối với mức giá dịch vụ giáo dục.

Bên cạnh đó, đề xuất này phù hợp với thực tiễn thu học phí hiện nay của các trường đại học, đồng thời bảo đảm tính đồng bộ về mặt pháp lý với các quy định hiện hành”, Tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa chia sẻ.

Cùng chia sẻ, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận - nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ cho rằng, lâu nay chính sách học phí vẫn được xây dựng theo hướng áp dụng mức trần riêng đối với các nhóm cơ sở giáo dục đại học tự chủ.

Thực tế cũng cho thấy, khi các trường được trao quyền tự chủ, học phí có khả năng tăng cao. Do đó, việc duy trì cơ chế quy định mức trần học phí là cần thiết. Nếu không có mức trần phù hợp, sau khi đạt chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục, các cơ sở đào tạo có thể tiếp tục tăng học phí, từ đó đặt ra vấn đề về bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học.

“Vấn đề là mức trần học phí này nên được quy định như thế nào cho hợp lý. Mức trần học phí quá cao có thể làm gia tăng gánh nặng chi phí đối với người học; mức trần không phù hợp với yêu cầu tự chủ của các trường cũng có thể hạn chế khả năng bảo đảm nguồn lực cho đào tạo. Do đó, việc xác định mức trần cần tính đến sự cân bằng giữa quyền tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học và yêu cầu bảo đảm công bằng trong giáo dục”, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận cho biết.

1780906412500.jpg
Nguồn ảnh minh họa: USTH

Đồng tình với những quan điểm trên, Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân - Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, mức thu học phí của trường được xây dựng căn cứ vào mức trần học phí theo quy định hiện hành.

“Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh thuộc nhóm cơ sở giáo dục đại học tự bảo đảm chi thường xuyên. Nên việc xác định mức thu học phí được tính toán giữa yêu cầu tự chủ tài chính và khung học phí do Nhà nước quy định", Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân chia sẻ.

Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân cho rằng, nếu chính sách mức trần học phí theo dự thảo áp dụng đồng bộ theo các khối ngành đào tạo thì trường cần có sự tính toán phù hợp với đặc thù chi phí của từng lĩnh vực.

Đặc biệt, đối với các ngành khoa học, công nghệ, chi phí đầu tư cho phòng thí nghiệm, trang thiết bị, cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ đào tạo thường ở mức cao. Chính vì thế, mức học phí cũng cần phản ánh phần nào đặc thù đầu tư của từng nhóm ngành trong trường hợp cơ sở đào tạo không có nguồn hỗ trợ từ Nhà nước.

Không ảnh hưởng đến quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học

Cũng theo chia sẻ từ chuyên gia, việc quy định mức trần học phí của cơ sở giáo dục đại học tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư với cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên về cùng một mức không làm giảm đi quyền tự chủ, đặc biệt đối với những trường có sự đầu tư cơ sở vật chất lớn phục vụ các chương trình đào tạo trọng điểm.

Lý giải về điều này, Tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa cho rằng, quyền tự chủ tài chính được mở rộng qua kết quả kiểm định chất lượng giáo dục. Các trường đại học có thể thu hồi vốn đầu tư cơ sở vật chất và duy trì các chương trình đào tạo trọng điểm gắn liền trực tiếp với công tác kiểm định chất lượng giáo dục.

Theo quy định tại dự thảo, đối với các chương trình đào tạo đã trải qua các bước đánh giá nghiêm ngặt (từ việc tiếp nhận hồ sơ thẩm định, tiến hành khảo sát sơ bộ cho đến khi đánh giá chính thức) và đạt mức kiểm định chất lượng giáo dục theo tiêu chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định (hoặc tiêu chuẩn quốc tế), cơ sở giáo dục đại học sẽ được quyền tự quyết định mức thu học phí.

Mức thu học phí này được xây dựng trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật thực tế do chính cơ sở giáo dục ban hành, thực hiện công khai với người học và xã hội.

Nhờ cơ chế đó, đối với các chương trình đào tạo mũi nhọn, đòi hỏi đầu tư lớn (ví dụ như các chương trình trình độ thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Tài chính - Ngân hàng, Kỹ thuật ô tô hay các chương trình cử nhân Quản trị kinh doanh), một khi chất lượng đào tạo đã được các trung tâm kiểm định công nhận, nhà trường hoàn toàn có thể tự chủ thu học phí tương xứng với chất lượng và mức đầu tư mà không bị ràng buộc bởi mức trần gộp chung nêu trên.

Bên cạnh đó, hiện nay, ngay cả khi được trao quyền tự chủ tài chính cao hơn, nhiều cơ sở giáo dục đại học vẫn chưa khai thác hết dư địa học phí cho phép.

Thực tế, tỷ lệ học phí bình quân tại các cơ sở tự chủ hiện nay mới chỉ dao động ở mức 50% - 85% so với mức trần (theo Báo cáo tình hình thực hiện Nghị định 238). Việc các trường chưa thu tới mức trần chủ yếu xuất phát từ yêu cầu bảo đảm khả năng chi trả của người học, áp lực cạnh tranh trong tuyển sinh và chiến lược phát triển riêng của từng trường. Do đó, thầy Nghĩa cho rằng, việc quy định về cùng một mức trần (2,5 lần) vẫn để lại không gian đủ rộng cho đại đa số các trường vận hành.

Hơn nữa, việc quy định mức trần học phí chung như dự thảo cũng giúp Nhà nước kiểm soát được biên độ tăng giá dịch vụ giáo dục đại học, ngăn ngừa nguy cơ tăng giá đột biến hoặc thương mại hóa giáo dục đối với các chương trình đào tạo đại trà.

Đồng thời, quy định vẫn tạo không gian để các trường đại học khai thác tối đa và hợp pháp các nguồn lực xã hội hóa nhằm bù đắp chi phí vận hành, tái đầu tư cơ sở vật chất hiện đại và nâng cấp chương trình đào tạo.

Còn theo Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đặng Ứng Vận, chính sách học phí cần được gắn với các chính sách an sinh xã hội. Quy định mức trần học phí cần đi kèm trách nhiệm trích lập quỹ học bổng và triển khai các gói hỗ trợ phù hợp, trong đó có sự tham gia hỗ trợ từ Nhà nước.

Từ đó, bảo đảm nguyên tắc công bằng trong giáo dục, giúp sinh viên thuộc diện chính sách, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn và người học đến từ các vùng còn nhiều hạn chế về điều kiện kinh tế vẫn có cơ hội tiếp cận giáo dục đại học chất lượng, không bị cản trở bởi khả năng chi trả học phí.

Ngoài ra cũng cần lưu ý, chính sách học phí không nên áp dụng cứng một hệ số trần cho tất cả các khối ngành. Cần nghiên cứu cơ chế học phí riêng theo hướng linh hoạt hơn đối với những ngành có chi phí đào tạo đặc thù, vừa tạo điều kiện để các trường bảo đảm nguồn lực đào tạo, vừa tính đến khả năng chi trả của người học và yêu cầu công bằng trong giáo dục.

Ngọc Mai