Bộ Giáo dục và Đào tạo đang soạn thảo Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 3/9/2025 của Chính phủ quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
Theo Báo cáo tình hình thực hiện Nghị định số 238/2025/NĐ-CP, đánh giá thực trạng mức thu học phí của các cơ sở giáo dục đại học, kết quả khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy khoảng cách giữa chi phí đào tạo thực tế và mức trần học phí hiện hành là tương đối lớn ở nhiều chương trình đào tạo.
Nhiều ngành đại học có chi phí đào tạo vượt xa mức trần học phí
Sinh viên Trường Đại học Y - Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: Khoa Răng Hàm Mặt
Kết quả khảo sát cho thấy các chương trình có mức học phí tính đủ chi phí đào tạo vượt trần tập trung chủ yếu ở những nhóm ngành có chi phí đào tạo cao như sức khỏe, kỹ thuật - công nghệ và nghệ thuật.
Đây là những lĩnh vực đòi hỏi đầu tư lớn về cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên dụng, thực hành, thí nghiệm, thực tập nghề nghiệp hoặc đào tạo theo mô hình có cường độ tương tác cao giữa giảng viên và người học.
Trong đó, khối ngành sức khỏe là nhóm có mức vượt trần cao nhất.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, khoảng cách lớn ở nhóm ngành sức khỏe phản ánh đặc thù chi phí đào tạo rất cao của lĩnh vực này do yêu cầu về thực hành lâm sàng, cơ sở thực hành tại bệnh viện, trang thiết bị chuyên môn, vật tư tiêu hao và đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên sâu.
Khoảng cách giữa mức trần học phí và chi phí đào tạo không chỉ xuất hiện ở khối ngành sức khỏe.
Tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh, một số ngành kỹ thuật có mức trần học phí 15,9 triệu đồng/người học/năm. Mức học phí hiện hành là 16,46 triệu đồng, trong khi chi phí đào tạo thực tế là 23,514 triệu đồng.
Mức học phí tính đủ chi phí đào tạo được xác định là 50 triệu đồng/người học/năm, tương đương 314,5% mức trần.
Tại Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, một số ngành kỹ thuật có mức trần 31,8 triệu đồng/người học/năm. Học phí hiện hành dao động từ 15,9-42 triệu đồng, trong khi mức học phí tính đủ chi phí đào tạo lên tới 84 triệu đồng, tương đương 264,2% mức trần.
Đáng chú ý, khoảng cách lớn cũng xuất hiện ở lĩnh vực nghệ thuật.
Tại Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, ngành Mỹ thuật có mức trần học phí 15,2 triệu đồng/người học/năm. Học phí hiện hành cũng ở mức 15,2 triệu đồng, nhưng chi phí đào tạo thực tế lên tới 57,75 triệu đồng.
Mức học phí tính đủ chi phí đào tạo là 60 triệu đồng/người học/năm, tương đương 394,7% mức trần.
Một số chương trình có mức học phí tính đủ chi phí đào tạo cao hơn nhiều lần mức trần:
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, kỹ thuật - công nghệ là nhóm có số lượng chương trình vượt trần lớn nhất. Riêng tại các cơ sở giáo dục đại học chưa tự bảo đảm chi thường xuyên có tới 204 chương trình thuộc nhóm này có mức học phí tính đủ chi phí đào tạo vượt mức trần quy định.
Điều này cho thấy khoảng cách giữa học phí và chi phí đào tạo không chỉ xuất hiện ở những ngành đặc thù như y dược hay nghệ thuật mà đã mở rộng sang nhiều ngành kỹ thuật, công nghệ có quy mô đào tạo lớn.
Vì sao chi phí đào tạo các ngành này cao?
Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá, các chương trình thuộc nhóm có chi phí đào tạo cao thường đòi hỏi mức đầu tư lớn hơn về cơ sở vật chất và tổ chức đào tạo.
Với khối ngành sức khỏe, người học phải thực hành lâm sàng, học tập tại cơ sở thực hành ở bệnh viện, sử dụng trang thiết bị chuyên môn và vật tư tiêu hao; đồng thời cần đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên sâu.
Với kỹ thuật - công nghệ, chi phí gắn với phòng thí nghiệm, máy móc, trang thiết bị chuyên dụng, thực hành, thí nghiệm và thực tập nghề nghiệp.
Trong khi đó, các chương trình nghệ thuật cũng đòi hỏi đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị và mô hình đào tạo có cường độ tương tác cao giữa giảng viên và người học.
Bởi vậy, theo đánh giá của Bộ, mức trần học phí hiện hành ở một số nhóm ngành chưa phản ánh đầy đủ chi phí đào tạo thực tế.
Đề xuất cơ chế học phí linh hoạt hơn với ngành chi phí cao
Từ kết quả khảo sát, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết phần lớn các ngành đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học công lập hiện có mức học phí và mức học phí tính đủ chi phí đào tạo vẫn nằm trong hoặc tiệm cận mức trần quy định tại Nghị định số 238/2025/NĐ-CP.
Tuy nhiên, đối với một số nhóm ngành, đặc biệt là các ngành thuộc lĩnh vực kinh doanh, quản lý, pháp luật và một số ngành kỹ thuật, công nghệ, mức học phí tính đủ chi phí đào tạo đã vượt mức trần hiện hành, phổ biến trong khoảng từ 100%-130% mức trần.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học tự bảo đảm chi thường xuyên, phần lớn các trường hợp có mức học phí tính đủ chi phí đào tạo vượt trần đều thuộc các chương trình đào tạo đã được kiểm định chất lượng theo tiêu chuẩn trong nước hoặc quốc tế.
Theo quy định của Nghị định số 238/2025/NĐ-CP, các chương trình này được phép xác định mức học phí trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật và chi phí đào tạo thực tế. Do đó, mức vượt trần nêu trên về cơ bản vẫn nằm trong phạm vi cơ chế đặc thù đã được pháp luật cho phép.
Tuy nhiên, nhiều ngành đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học tự bảo đảm chi thường xuyên hiện đã tiệm cận mức trần học phí. Trong thời gian tới, áp lực chi phí đào tạo dự kiến tiếp tục gia tăng do tác động của các chính sách tiền lương mới.
Cụ thể, Nghị định số 182/2026/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo và Nghị định số 161/2026/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở từ ngày 1/7/2026 tăng từ 2,34 triệu đồng/tháng lên 2,53 triệu đồng/tháng, tương đương mức tăng khoảng 8%.
Việc điều chỉnh tiền lương và các khoản phụ cấp sẽ làm tăng đáng kể chi phí đào tạo, đặc biệt đối với các cơ sở giáo dục đại học có tỷ trọng chi cho nhân sự lớn.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học tự bảo đảm cả chi thường xuyên và chi đầu tư, phần lớn các ngành đào tạo vẫn có mức học phí tính đủ chi phí đào tạo nằm trong khung học phí hiện hành. Các trường hợp vượt trần chủ yếu tập trung ở những chương trình đào tạo đã được kiểm định chất lượng hoặc các ngành có nhu cầu xã hội cao như marketing, kinh doanh quốc tế, tài chính - ngân hàng.
Riêng đối với khối ngành sức khỏe, Bộ cho rằng cần nghiên cứu cơ chế học phí riêng hoặc cơ chế xác định học phí linh hoạt hơn, do khoảng cách giữa học phí và chi phí đào tạo thực tế lớn hơn đáng kể so với các nhóm ngành khác.
Tính học phí theo chi phí đào tạo và mức hỗ trợ ngân sách
Trên cơ sở kết quả khảo sát, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng có thể xem xét phương án điều chỉnh khung học phí đối với các cơ sở giáo dục đại học tự bảo đảm chi thường xuyên theo hướng tiệm cận mức học phí hiện đang áp dụng đối với nhóm cơ sở tự bảo đảm cả chi thường xuyên và chi đầu tư.
Theo Bộ, phương án này vừa góp phần thu hẹp khoảng cách giữa học phí và chi phí đào tạo thực tế, vừa hạn chế tác động đột ngột đến người học do mức điều chỉnh không quá lớn.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học chưa tự bảo đảm chi thường xuyên, việc xác định mức học phí cần được xem xét trên cơ sở chi phí đào tạo thực tế và mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
Về nguyên tắc, Bộ đề xuất xác định:
Mức học phí = Chi phí đào tạo thực tế - Phần kinh phí được ngân sách nhà nước hỗ trợ.
Để thực hiện nguyên tắc này, các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật và xác định chi phí đào tạo đối với từng ngành đào tạo làm cơ sở cho việc xác định mức học phí, đồng thời tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính.
Nhìn chung, việc hoàn thiện cơ chế học phí trong giai đoạn tới cần bảo đảm hài hòa giữa ba mục tiêu: phản ánh sát hơn chi phí đào tạo thực tế; tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học nâng cao mức độ tự chủ tài chính và chất lượng đào tạo; đồng thời bảo đảm khả năng tiếp cận giáo dục đại học của người học, đặc biệt đối với các nhóm yếu thế và các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.