Dự thảo Thông tư ban hành Quy chế Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông đã đặt ra yêu cầu rõ hơn về tính độc lập, trung thực của học sinh trong quá trình thực hiện dự án.
Khoản 2, Điều 16 dự thảo Thông tư quy định người hướng dẫn nghiên cứu có trách nhiệm hướng dẫn, giám sát để bảo đảm sự tham gia thực chất, độc lập của học sinh trong toàn bộ quá trình thực hiện dự án; không được trực tiếp thực hiện thay cho học sinh các nội dung nghiên cứu cốt lõi của dự án.
Một số chuyên gia, Đại biểu Quốc hội cho rằng, quy định này là cần thiết để bảo đảm tính trung thực của cuộc thi; tuy nhiên, ranh giới giữa hướng dẫn, hỗ trợ chuyên môn và “làm thay” học sinh không dễ phân định.
Khó phân định ranh giới giữa “hỗ trợ chuyên môn” và “làm thay” học sinh
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh - Đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh Lâm Đồng cho biết, đây là vấn đề rất khó phân định, đặc biệt với những dự án thuộc các lĩnh vực đòi hỏi kiến thức và kỹ năng chuyên sâu.
“Theo tôi, không nên xác định ranh giới chỉ dựa trên việc giáo viên hoặc chuyên gia được phép thực hiện bao nhiêu thao tác kỹ thuật, bởi cùng một thao tác nhưng trong những hoàn cảnh khác nhau có thể mang ý nghĩa rất khác nhau.
Điều quan trọng hơn là phải xác định ai là người làm chủ các quyết định khoa học cốt lõi của dự án. Có thể hình dung ranh giới này theo các mức độ. Ở mức thứ nhất, giáo viên hoặc người hướng dẫn giải thích kiến thức nền tảng, giới thiệu phương pháp, gợi ý cách tiếp cận, đặt câu hỏi để học sinh tự tìm ra hướng giải quyết. Đây là vai trò cần thiết và hoàn toàn phù hợp với bản chất của một dự án nghiên cứu dành cho học sinh.
Ở mức thứ hai, người hướng dẫn hỗ trợ kỹ thuật. Chẳng hạn, học sinh chưa từng sử dụng một thiết bị chuyên dụng, chưa biết cách vận hành phần mềm hoặc chưa đủ năng lực để triển khai một công cụ phức tạp. Giáo viên có thể hướng dẫn thao tác, làm mẫu ở mức cần thiết hoặc chỉ ra lỗi để học sinh tiếp tục tự thực hiện. Sự hỗ trợ này không làm mất đi tính độc lập của học sinh nếu các em vẫn hiểu mục đích, nguyên lý và có khả năng tự thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh công việc sau đó.
Tuy nhiên, nếu giáo viên hướng dẫn tự xây dựng mô hình, tự viết phần lớn mã nguồn, tự thiết kế thí nghiệm, tự xử lý toàn bộ dữ liệu rồi học sinh chỉ trình bày lại kết quả, về bản chất đó không còn là dự án nghiên cứu của học sinh. Mặt khác, cũng không thể yêu cầu học sinh phải tự mình làm tất cả mọi công đoạn. Vấn đề là sự hỗ trợ đó phải giúp học sinh nâng cao năng lực để tự nghiên cứu, chứ không biến người hướng dẫn thành người thực hiện dự án thay cho học sinh.
Do đó, tiêu chí quan trọng nhất vẫn là mức độ làm chủ dự án của học sinh. Đồng thời, phần bảo vệ trước hội đồng vì thế có thể trở thành một “bài kiểm tra thực chất” về quyền tác giả và mức độ làm chủ dự án. Hội đồng không chỉ nghe học sinh trình bày kết quả cuối cùng mà cần đặt những câu hỏi bất ngờ, yêu cầu giải thích cách xử lý một tình huống, lý do loại bỏ một phương án, cách kiểm chứng dữ liệu hoặc những gì học sinh sẽ thay đổi nếu thực hiện lại nghiên cứu.
Theo tôi, đây cũng là cách tiếp cận phù hợp hơn trong bối cảnh AI và các công cụ công nghệ ngày càng phổ biến. Ranh giới giữa “hỗ trợ” và “làm thay” không nên được xác định bằng việc loại bỏ vai trò của người lớn, mà cần bảo đảm người hướng dẫn cung cấp năng lực và nguồn lực để học sinh làm tốt hơn, chứ không sử dụng năng lực của mình để thay thế vai trò nghiên cứu của học sinh”, bà Trịnh Thị Tú Anh cho hay.
Đồng quan điểm, theo thầy Mai Văn Túc - Chuyên gia giáo dục STEM tại Trung tâm Khám phá Khoa học và Đổi mới sáng tạo Quy Nhơn, ranh giới này có thể xác định bằng nguyên tắc: người hướng dẫn được giúp học sinh học cách nghiên cứu nhưng không được trở thành người nghiên cứu thay học sinh.
Người hướng dẫn có thể dạy kiến thức nền, gợi mở câu hỏi, giúp thu hẹp vấn đề, góp ý phương pháp, hướng dẫn sử dụng công cụ,... Nhưng, học sinh phải thực sự hiểu câu hỏi nghiên cứu, tham gia lựa chọn phương án, thực hiện những thao tác cốt lõi trong khả năng của mình, hiểu dữ liệu, phân tích sai số, rút ra kết luận và tự bảo vệ quan điểm.
Với những dự án đòi hỏi kỹ thuật cao, có thể chấp nhận việc chuyên gia hoặc phòng thí nghiệm hỗ trợ một phép đo đặc biệt nhưng phần hỗ trợ đó phải được công khai rõ. Học sinh vẫn phải hiểu phép đo dùng để làm gì, nguyên lý cơ bản là gì và dữ liệu ấy được sử dụng như thế nào trong lập luận của đề tài.
Phần kê khai hay hồ sơ chỉ phản ánh một phần quá trình nghiên cứu. Thước đo thuyết phục nhất vẫn là năng lực thể hiện trực tiếp: học sinh có thực sự hiểu, làm chủ đề tài và đủ khả năng xử lý một tình huống mới liên quan đến chính công trình của mình hay không.
Bên cạnh đó, dự thảo Thông tư yêu cầu học sinh phải lập nhật ký nghiên cứu liên tục (bằng bản viết hoặc điện tử), ghi nhận rõ thời gian, đầu việc, phương pháp và vai trò của từng người, có xác nhận định kì của giáo viên hướng dẫn. Đặc biệt, học sinh được sử dụng công cụ số, trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ tra cứu thông tin, xử lý dữ liệu, mô phỏng trong quá trình thực hiện dự án và phải có trách nhiệm kê khai trung thực trong hồ sơ dự thi về việc sử dụng.
“Đây là những yêu cầu đúng về nguyên tắc. Nghiên cứu khoa học phải minh bạch từ quá trình thực hiện, nguồn thông tin đến mức độ đóng góp của từng người. Nhật ký nghiên cứu giúp ghi lại quá trình hình thành ý tưởng, thử nghiệm, những lần sai và điều chỉnh; trong khi kê khai việc sử dụng AI giúp học sinh ý thức rõ hơn về công cụ mình sử dụng và trách nhiệm đối với kết quả nghiên cứu.
Đặc biệt, vai trò của người hướng dẫn rất quan trọng. Giáo viên hướng dẫn phải giáo dục cho học sinh hiểu rằng việc kê khai sử dụng AI là một phần của liêm chính khoa học. Người hướng dẫn phải làm gương trong cách trích dẫn, kiểm chứng thông tin và sử dụng công nghệ có trách nhiệm.
Tuy nhiên, các quy định này sẽ khó phát huy hiệu quả nếu chỉ dừng ở việc học sinh tự kê khai. Trong bối cảnh từng có những nghi vấn về việc người lớn can thiệp quá sâu, thậm chí làm thay hoặc hợp thức hóa công trình của học sinh, một cuốn nhật ký hay bản kê khai sử dụng AI, nếu chỉ do người dự thi tự ghi thì chưa thể là căn cứ đủ mạnh để bảo đảm tính liêm chính.
Vì vậy, nhật ký nghiên cứu và bản kê khai sử dụng AI là những nguồn thông tin cần thiết nhưng không thể là bằng chứng duy nhất để đánh giá tính trung thực của một dự án. Điều quan trọng hơn là phải có những cơ chế kiểm chứng độc lập, qua đó đối chiếu giữa những gì học sinh kê khai với năng lực, quá trình và kết quả mà các em thực sự thể hiện”, thầy Mai Văn Túc nhận định.
Theo thầy Túc, cách đáng tin cậy hơn là đối chiếu những gì được kê khai với năng lực mà học sinh trực tiếp thể hiện trên chính đề tài của mình. Hội đồng cần có khả năng tiếp cận dữ liệu gốc, bản thiết kế, mã nguồn hoặc lịch sử chỉnh sửa nếu có; đồng thời đặt câu hỏi đi sâu vào cơ sở khoa học, phương pháp nghiên cứu, biến số, sai số, cách xử lý dữ liệu và cả những thử nghiệm không thành công. Với những trường hợp cần thiết, có thể yêu cầu học sinh tái hiện một thao tác, phép đo hoặc xử lý một tình huống mới phát sinh từ chính đề tài.
Một học sinh thực sự tham gia nghiên cứu không nhất thiết phải trả lời hoàn hảo mọi câu hỏi, nhưng phải thể hiện được cách tư duy, hiểu rõ quá trình thực hiện và giải thích được dữ liệu do mình tạo ra. Ngược lại, khi một sản phẩm vượt xa năng lực thể hiện của học sinh, những khoảng trống về kiến thức nền, phương pháp và các thao tác cốt lõi sẽ dần lộ rõ qua quá trình chất vấn.
Chế tài xử lý là hàng rào, liêm chính cả quá trình là mục tiêu cốt lõi
Điều 38, 39 của dự thảo Thông tư quy định có thể hủy kết quả, cấm học sinh tham gia cuộc thi 1-2 năm; người hướng dẫn có thể bị cấm hướng dẫn trong 1-2 lần tổ chức cuộc thi tiếp theo. Kết quả, giải thưởng của dự án dự thi bị thu hồi nếu dự án được xác định vi phạm liêm chính khoa học.
Theo Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh, chế tài xử lý vi phạm chỉ là tầng cuối cùng của một hệ thống bảo đảm liêm chính khoa học. “Nếu chỉ tăng mức phạt mà quy trình phát hiện, xác minh vi phạm chưa đủ chặt chẽ thì vẫn chưa giải quyết được vấn đề. Điều tôi quan tâm hơn là làm thế nào để một hành vi vi phạm có thể được phát hiện và kết luận một cách khách quan, công bằng. Chế tài chỉ có sức răn đe khi người tham gia biết rõ hành vi nào bị cấm và tin rằng mọi kết luận vi phạm đều dựa trên những căn cứ minh bạch.
Trách nhiệm giữa học sinh và người hướng dẫn cũng cần được phân định rõ. Học sinh là chủ thể của dự án nhưng các em vẫn đang ở lứa tuổi phổ thông và cần có sự giám sát của người hướng dẫn. Vì vậy, nếu phát hiện sự can thiệp quá mức của giáo viên, không thể chỉ xử lý học sinh mà bỏ qua trách nhiệm của người hướng dẫn.
Mục tiêu cuối cùng của quy chế không phải là khiến học sinh sợ bị xử phạt mà phải giúp các em hiểu rằng trong khoa học, trung thực không phải điều kiện để vượt qua một cuộc thi, đó là nền tảng để một kết quả nghiên cứu có giá trị.
Nếu làm được điều đó, cuộc thi nghiên cứu khoa học sẽ không chỉ tìm ra những dự án tốt mà còn góp phần hình thành ở học sinh năng lực đặt câu hỏi, kiểm chứng, thừa nhận sai sót và chịu trách nhiệm với tri thức do chính mình tạo ra”, bà Trịnh Thị Tú Anh nhận định.
Bên cạnh đó, thầy Mai Văn Túc cũng ủng hộ việc đưa các chế tài rõ ràng vào quy chế. Gian lận, sao chép, làm giả dữ liệu hoặc người lớn trực tiếp làm thay những phần việc cốt lõi mà không bị xử lý sẽ khiến các quy định về liêm chính khoa học khó có đủ sức nặng. Tuy nhiên, mức phạt chỉ thực sự có sức răn đe khi vi phạm có khả năng bị phát hiện, tiêu chí xác định sai phạm rõ ràng và quy trình kiểm chứng đủ chặt chẽ, thuyết phục. Nếu việc đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào hồ sơ do chính nhóm dự thi cung cấp, nhật ký tự ghi và lời khai tự xác nhận, thì việc tăng mức phạt chưa chắc tạo ra thay đổi thực chất.
Ngoài ra, nhìn từ thực tế triển khai trong thời gian qua, thầy Mai Văn Túc cho rằng, nếu chỉ điều chỉnh từng quy định kỹ thuật mà không nhìn lại mục tiêu của cuộc thi, rất dễ tiếp tục “chữa phần ngọn”.
Cuộc thi nghiên cứu khoa học dành cho học sinh trước hết phải là một hoạt động giáo dục, nhằm hình thành năng lực nghiên cứu và khơi dậy niềm yêu thích khoa học; giải thưởng chỉ nên là kết quả, không phải mục tiêu trung tâm. Theo đó, cần chuyển từ “chấm sản phẩm” sang đánh giá quá trình và năng lực thực chất của học sinh. Hội đồng không chỉ xem sản phẩm cuối cùng mà cần kiểm chứng cách học sinh hình thành ý tưởng, lựa chọn phương pháp, thực hiện, xử lý dữ liệu và bảo vệ kết quả. Có thể tăng các hình thức vấn đáp, đưa tình huống mới hoặc yêu cầu tái hiện một thao tác để xác định học sinh có thực sự làm chủ đề tài hay không.
Đề tài phải phù hợp với trình độ học sinh, kể cả những dự án có sự hỗ trợ của chuyên gia. Người hướng dẫn có thể định hướng, hỗ trợ kỹ thuật nhưng không được thay học sinh thực hiện các nội dung nghiên cứu cốt lõi. Với việc sử dụng AI cũng vậy, không nên cấm mà cần coi đây là công cụ hỗ trợ, đi kèm yêu cầu kê khai và kiểm chứng mức độ hiểu, làm chủ của học sinh.
Mặt khác, không nên để toàn bộ quá trình nghiên cứu diễn ra bên ngoài rồi đến cuối cùng học sinh chỉ mang sản phẩm hoàn thiện đến trình bày. Cuộc thi có thể được tổ chức theo nhiều vòng, với mỗi vòng tập trung kiểm chứng một năng lực khác nhau của học sinh.
Cuối cùng, cần giảm động cơ chạy theo giải thưởng, tăng tính độc lập trong chấm thi và xây dựng cơ chế để gian lận khó thực hiện, khó che giấu. Chế tài là hàng rào cuối cùng; mục tiêu cốt lõi vẫn là tạo ra một môi trường nghiên cứu trung thực, phải thay đổi triết lý tổ chức từ cuộc thi của “sản phẩm và giải thưởng” thành cuộc thi của “quá trình học tập và năng lực khoa học”.