Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư ban hành Quy chế Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Người viết là giáo viên có nhiều năm hướng dẫn học sinh thi nghiên cứu khoa học kĩ thuật nhận thấy, dự thảo này có nhiều điểm mới so với Thông tư 06/2024/TT-BGDĐT hiện hành.

ai.png
Ảnh minh hoạ được tạo bằng AI.

Từ 22 lĩnh vực còn 16 lĩnh vực

Tại Thông tư 06/2024/TT-BGDĐT ban hành Quy chế Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông quy định 22 lĩnh vực, từ khoa học động vật, khoa học xã hội và hành vi, hóa sinh, y sinh và khoa học sức khỏe đến robot, phần mềm hệ thống, y học chuyển dịch...

Trong khi đó, Phụ lục 1 của dự thảo chỉ còn 16 lĩnh vực, gồm Sinh học, Sinh học ứng dụng, Khoa học vật chất, Khoa học trái đất, Toán học, Thống kê, Máy tính, Công nghệ thông tin, các nhóm kỹ thuật và Khoa học xã hội và hành vi.

Theo người viết, việc giảm từ 22 xuống 16 lĩnh vực có ưu điểm là hạn chế tình trạng chia nhỏ quá nhiều chuyên ngành, đồng thời giúp việc tổ chức, bố trí giám khảo và phân nhóm dự án thuận lợi hơn.

Hơn nữa, nhiều lĩnh vực gần nhau được quy về những nhóm lớn, phù hợp với tính liên ngành ngày càng rõ của nghiên cứu khoa học trong trường phổ thông.

Quy định mức độ an toàn đối với dự án nghiên cứu

Khoản 4 Điều 4 là một điểm mới đáng chú ý khi dự thảo phân loại dự án theo ba mức độ an toàn: cấm tuyệt đối, phê duyệt rủi ro và an toàn để thực hiện.

Trong khi quy định hiện hành chỉ nêu một số trường hợp không được tham gia cuộc thi như nghiên cứu về mầm bệnh, hóa chất độc hại hoặc chất gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, dự thảo quy định cụ thể hơn theo mức độ rủi ro.

Theo đó, dự án có nguy cơ nghiêm trọng đối với con người, động vật, môi trường, an ninh hoặc vi phạm đạo đức nghiên cứu, quyền sở hữu trí tuệ sẽ không được dự thi; các dự án có rủi ro nhưng có thể kiểm soát chỉ được thực hiện sau khi được cơ sở giáo dục đánh giá và phê duyệt.

Khoản 7 và khoản 8 Điều 4 bổ sung những yêu cầu mới nhằm tăng tính minh bạch và bảo đảm liêm chính khoa học của dự án.

Cụ thể, nhật ký nghiên cứu và dữ liệu gốc phải được lưu giữ trung thực, đầy đủ, có khả năng kiểm chứng; việc sử dụng AI cũng phải đúng quy định và không được thay thế hoạt động nghiên cứu, phân tích hoặc sáng tạo của học sinh.

Nhật ký nghiên cứu là minh chứng cho quá trình thực hiện dự án

Điều 14 của dự thảo quy định riêng về nhật ký nghiên cứu, dữ liệu gốc và minh chứng quá trình thực hiện dự án.

Theo dự thảo, trong suốt quá trình nghiên cứu, học sinh phải lập và lưu giữ nhật ký bằng hình thức điện tử hoặc văn bản, ghi đầy đủ thời gian, nội dung công việc, phương pháp thực hiện, kết quả từng giai đoạn và vai trò của từng thành viên đối với dự án tập thể. Người hướng dẫn có trách nhiệm xác nhận định kỳ vào nhật ký.

Dự thảo cũng yêu cầu học sinh lưu giữ dữ liệu gốc, tài liệu, hình ảnh, video liên quan đến quá trình thực hiện dự án và cung cấp khi được yêu cầu.

Đáng chú ý, dự thảo xác định nhật ký nghiên cứu và dữ liệu gốc là căn cứ để cơ sở giáo dục, đơn vị dự thi và hội đồng thẩm định phân biệt mức độ tham gia thực chất của học sinh với vai trò hỗ trợ, hướng dẫn của giáo viên và nhà khoa học.

Tinh thần này cũng được thể hiện trong quy định dự kiến về chấm thi. Theo dự thảo, giám khảo không chỉ căn cứ vào báo cáo, poster và phần trình bày trực tiếp mà còn xem xét kế hoạch nghiên cứu, nhật ký nghiên cứu và hồ sơ dự án.

Cơ cấu điểm dự kiến cũng kết hợp đánh giá kết quả khoa học với đánh giá quá trình thực hiện thông qua hồ sơ, nhật ký nghiên cứu và dữ liệu gốc.

Quy định rõ việc sử dụng AI trong nghiên cứu

Điều 15 của dự thảo dành riêng quy định về việc sử dụng công nghệ số và AI trong nghiên cứu. Học sinh được sử dụng các công cụ này để hỗ trợ tra cứu thông tin, xử lý dữ liệu và mô phỏng, nhưng phải kê khai trung thực mục đích, phạm vi và mức độ sử dụng trong hồ sơ dự thi.

Dự thảo đồng thời quy định rõ những hành vi bị nghiêm cấm, như sử dụng AI để giả mạo quá trình nghiên cứu, tạo lập hoặc làm sai lệch dữ liệu, sao chép kết quả của người khác hoặc che giấu việc sử dụng AI.

Người hướng dẫn cũng có trách nhiệm hướng dẫn học sinh sử dụng công cụ số, AI đúng mục đích và xác nhận phạm vi sử dụng trong hồ sơ dự thi.

Quy định này phù hợp với thực tế hiện nay, khi AI ngày càng được sử dụng phổ biến trong học tập và nghiên cứu. Thay vì cấm hoàn toàn, dự thảo đặt ra giới hạn rõ ràng: AI chỉ là công cụ hỗ trợ, không được thay thế hoạt động nghiên cứu, phân tích và sáng tạo của học sinh.

Quy định tại Điều 15 cũng có sự liên hệ chặt chẽ với Điều 14 về nhật ký nghiên cứu, dữ liệu gốc và minh chứng quá trình thực hiện dự án. Những tài liệu này sẽ góp phần làm rõ học sinh đã thực hiện những công việc nào, công cụ AI được sử dụng ở khâu nào và mức độ đóng góp thực chất của học sinh trong dự án.

Để bảo đảm liêm chính khoa học, dự thảo cũng đưa ra các biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm. Học sinh làm giả hồ sơ, nhật ký nghiên cứu hoặc dữ liệu gốc có thể bị hủy kết quả và cấm tham dự cuộc thi từ một đến hai năm; người hướng dẫn để xảy ra vi phạm liêm chính khoa học có thể bị xử lý và bị hạn chế tham gia hướng dẫn trong những lần tổ chức tiếp theo.

Kết quả, giải thưởng đã được công nhận cũng có thể bị thu hồi nếu sau đó phát hiện dự án vi phạm.

Cần quy định rõ hơn vai trò của người hướng dẫn

Điểm b khoản 3 Điều 5 của dự thảo là nội dung người viết đặc biệt quan tâm. Theo Thông tư 06/2024/TT-BGDĐT, mỗi dự án có ít nhất một người hướng dẫn là giáo viên hoặc nhân viên có chuyên môn phù hợp, đang làm việc tại cơ sở giáo dục nơi học sinh theo học; mỗi người chỉ được hướng dẫn một dự án trong một lần tổ chức cuộc thi.

So với quy định hiện hành, dự thảo nêu rõ, ngoài người hướng dẫn tại trường, trong trường hợp cần thiết, dự thảo cho phép dự án có thêm một người hướng dẫn là chuyên gia có trình độ thạc sĩ trở lên, đang công tác tại viện nghiên cứu, trường đại học, cơ quan, doanh nghiệp hoặc tổ chức khoa học và công nghệ.

Đề xuất này có ưu điểm là giúp học sinh có thêm cơ hội tiếp cận chuyên môn sâu, thiết bị, phòng thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu mà trường phổ thông không phải lúc nào cũng đáp ứng được.

Tuy nhiên, khi chuyên gia tham gia hướng dẫn, ranh giới giữa hỗ trợ học sinh nghiên cứu và thực hiện thay học sinh cũng cần được kiểm soát chặt chẽ.

Nhìn chung, các quy định mới về liêm chính khoa học, dữ liệu gốc, vai trò người hướng dẫn và sử dụng AI trong dự thảo được kỳ vọng sẽ giúp cuộc thi nghiên cứu khoa học của học sinh ngày càng đi vào thực chất hơn.

Tài liệu tham khảo:

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Giao-duc/Thong-tu-06-2024-TT-BGDDT-Quy-che-Cuoc-thi-nghien-cuu-khoa-hoc-quoc-gia-hoc-sinh-trung-hoc-co-so-606878.aspx

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Cao Nguyên