Có ngành đào tạo thạc sĩ nhưng không có PGS, Trường ĐH Tài chính - Ngân hàng Hà Nội nói do kê thiếu

19/09/2026 06:25
Mạnh Dũng

GDVN - Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội thừa nhận thiếu sót trong việc thống kê giảng viên có chức danh phó giáo sư ngành Công nghệ thông tin tại Báo cáo thường niên năm 2026 của nhà trường.

Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 2336/QĐ-TTg ngày 21/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

Theo thông tin giới thiệu trên website, sứ mạng của trường là đào tạo và cung cấp cho xã hội những cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, kế toán - kiểm toán, kinh doanh, công nghệ, ngoại ngữ và quản lý đáp ứng yêu cầu của thời đại công nghệ và hội nhập; cung cấp những thành tựu nghiên cứu có giá trị thực tiễn phục vụ cho sự phát triển của xã hội; đồng hành cùng tổ chức, doanh nghiệp để phát triển kinh doanh và đầu tư.

Trường hiện có 2 cơ sở đào tạo, trong đó, trụ sở chính ở xã Mê Linh, thành phố Hà Nội. Cơ sở 2 có địa chỉ tại số 31 Dịch Vọng Hậu, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Hiện, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Ánh là Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội.

dh-tcnh-hanoi-7078.jpg
Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội. Ảnh website nhà trường

Đào tạo thạc sĩ ngành Công nghệ thông tin nhưng không có phó giáo sư, nhà trường lý giải

Thời gian qua, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam nhận được phản ánh của phụ huynh khi tìm hiểu Báo cáo thường niên năm 2026 thực hiện theo Thông tư 09/2024/TT-BGDĐT của Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội có nhiều thông tin chưa rõ.

Để cung cấp thông tin khách quan, đầy đủ tới phụ huynh và bạn đọc, phóng viên đã liên hệ, gửi giấy giới thiệu kèm câu hỏi phỏng vấn cụ thể và đã nhận được phản hồi từ phía nhà trường.

Theo Báo cáo thường niên năm 2026 của Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội được Hiệu trưởng Phạm Ngọc Ánh ký ngày 18/6/2026, trong số 200 giảng viên toàn thời gian, nhà trường hiện có 17 phó giáo sư và 3 giáo sư.

So sánh giữa số lượng giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động và giảng viên toàn thời gian của trường cho thấy chênh lệch tới 10 phó giáo sư, 2 giáo sư.

Ngoài ra, lĩnh vực Máy tính và Công nghệ thông tin nhà trường chỉ có 1 tiến sĩ và 12 thạc sĩ là giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động, không có giảng viên đạt chức danh phó giáo sư hoặc giáo sư. Trong khi đó, ở lĩnh vực này, nhà trường đang đào tạo thạc sĩ ngành Công nghệ thông tin.

Đội ngũ giảng viên toàn thời gian theo các lĩnh vực đào tạo của Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội theo Báo cáo thường niên năm 2026. Ảnh chụp màn hình
Đội ngũ giảng viên toàn thời gian theo các lĩnh vực đào tạo của Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội theo Báo cáo thường niên năm 2026. Ảnh chụp màn hình

Khoản 1, Điều 5, Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-BGDĐT quy định điều kiện, trình tự, thủ tục mở ngành đào tạo, đình chỉ hoạt động của ngành đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ nêu rõ, điều kiện mở ngành đào tạo trình độ thạc sĩ yêu cầu cơ sở giáo dục cần có ít nhất 05 tiến sĩ ngành phù hợp là giảng viên cơ hữu, trong đó có một giáo sư hoặc phó giáo sư có kinh nghiệm quản lý đào tạo hoặc giảng dạy đại học tối thiểu từ 03 năm trở lên (không trùng với giảng viên cơ hữu là điều kiện mở ngành đào tạo trình độ thạc sĩ của các ngành khác), chịu trách nhiệm chủ trì xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo.

Lý giải về việc lĩnh vực Máy tính và Công nghệ thông tin của nhà trường không có giảng viên cơ hữu là phó giáo sư, giáo sư và chỉ có 1 tiến sĩ nhưng trường vẫn đủ điều kiện duy trì ngành Công nghệ thông tin trình độ thạc sĩ, trong văn bản phản hồi Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội cho biết: "Là cơ sở giáo dục đại học tư thục, nhà trường luôn chủ động và linh hoạt trong chính sách thu hút nguồn lực tri thức chất lượng cao.

Bên cạnh lực lượng giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động (chiếm 80,05% tổng số giảng viên toàn thời gian), nhà trường rất trân trọng và coi trọng việc phát huy năng lực, tri thức của các giáo sư, phó giáo sư, chuyên gia đầu ngành đã hết tuổi lao động nhưng vẫn bảo đảm sức khỏe, uy tín khoa học và tâm huyết làm việc toàn thời gian tại trường. Lực lượng này đóng vai trò quan trọng trong việc cố vấn chuyên môn, hướng dẫn nghiên cứu khoa học, tham gia giảng dạy và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trẻ.

Trong thời gian tới, nhà trường cũng triển khai các chính sách thu hút đội ngũ nhà khoa học trình độ cao trong độ tuổi lao động có học vị từ tiến sĩ trở lên để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của nhà trường.

Tuy nhiên, trường thống kê thiếu sót về độ tuổi giảng viên có trình độ cao được kéo dài thời gian làm việc tối đa không quá 5 năm (60 tháng) tính từ thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu theo Nghị định 50/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Hiện nay, ngành Công nghệ thông tin (thuộc lĩnh vực Máy tính và Công nghệ thông tin) thực tế có 1 phó giáo sư và 3 tiến sĩ trong độ tuổi kéo dài 05 năm và 1 tiến sĩ trong độ tuổi lao động".

Hoạt động khoa học công nghệ khiêm tốn do đặc thù khối ngành, chỉ có 2 đề tài nghiên cứu khoa học

Theo Báo cáo thường niên năm 2026 tại bảng Các chỉ số đánh giá về hoạt động khoa học công nghệ cho thấy, tỉ trọng thu khoa học - công nghệ năm 2025 của nhà trường là 1,1%; số công bố WoS,Scopus/giảng viên là 0. Ngoài ra, tại bảng kết quả công bố khoa học, công nghệ cho thấy tổng số bằng độc quyền sáng chế và tổng số bằng độc quyền giải pháp hữu ích của nhà trường đều bằng 0.

Trong khi đó, Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội đang đào tạo tiến sĩ 2 ngành Tài chính - Ngân hàng và Quản trị kinh doanh.

Tiêu chuẩn 6 về Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo trong Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT về Chuẩn cơ sở giáo dục đại học quy định:

Tiêu chí 6.1. Tỉ trọng thu từ các hoạt động khoa học và công nghệ trên tổng thu của cơ sở giáo dục đại học có đào tạo tiến sĩ (có tính trọng số theo lĩnh vực), tính trung bình trong 3 năm gần nhất không thấp hơn 5%.

Tiêu chí 6.2. Số lượng công bố khoa học và công nghệ tính bình quân trên một giảng viên toàn thời gian không thấp hơn 0,3 bài/năm; riêng đối với cơ sở giáo dục đại học có đào tạo tiến sĩ không phải trường đào tạo ngành đặc thù không thấp hơn 0,6 bài/năm trong đó số bài có trong danh mục Web of Science hoặc Scopus (có tính trọng số theo lĩnh vực) không thấp hơn 0,3 bài/năm.

Chia sẻ về nguyên nhân dẫn đến các chỉ số đánh giá về hoạt động khoa học công nghệ còn khiêm tốn, đại diện nhà trường cho hay, điều này là do Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội định hướng là cơ sở giáo dục đại học ứng dụng, tập trung chuyên sâu vào khối ngành Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng. Đặc thù của khối ngành này khác với khối ngành kỹ thuật/công nghệ thuần túy, sản phẩm nghiên cứu chủ yếu là các mô hình quản trị, chính sách, giải pháp tư vấn kinh tế nên không có lợi thế tự nhiên về việc đăng ký bằng độc quyền sáng chế hay giải pháp hữu ích.

Trong thời gian tới, để đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về chuẩn cơ sở giáo dục đại học, nhà trường đang triển khai đồng bộ các giải pháp. Trong đó, trường đưa chỉ tiêu công bố khoa học và bài báo quốc tế (WoS/Scopus) vào KPI đánh giá thi đua, phân loại công tác hàng năm của giảng viên. Đồng thời, đẩy mạnh ký kết các hợp đồng tư vấn quản trị, chuyển giao giải pháp tài chính - doanh nghiệp nhằm gia tăng tỷ trọng doanh thu khoa học và công nghệ. Ngoài ra, trường cũng trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ để hỗ trợ kinh phí cho các nhóm nghiên cứu mạnh và bài báo có công bố quốc tế.

Tại mục các đề tài nghiên cứu khoa học thực hiện trong năm cho thấy, nhà trường có tổng số 2 đề tài nghiên cứu khoa học được thực hiện trong năm 2025, toàn bộ là đề tài hợp tác quốc tế.

Ngoài ra, tại bảng kết quả công bố khoa học, công nghệ cho thấy tổng số bằng độc quyền sáng chế và tổng số bằng độc quyền giải pháp hữu ích của nhà trường đều bằng 0.

khcn-tai-chinh-ngan-hang-hn.jpg
khcn-2-tai-chinh-ngan-hang-hn-5606.jpg
Kết quả hoạt động khoa học và công nghệ theo Báo cáo thường niên năm 2026 của Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội. Ảnh chụp màn hình

Theo văn bản trả lời của nhà trường, đối với việc tiếp cận đề tài nghiên cứu khoa học trong nước, rào cản lớn nhất đối với các trường đại học tư thục khối ngành kinh tế xuất phát từ cơ chế phân bổ kinh phí ngân sách nhà nước đối với đề tài cấp Bộ/Nhà nước thường ưu tiên các đơn vị công lập lâu năm hoặc các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp tài chính - ngân hàng trong nước thường ưu tiên đặt hàng các dịch vụ tư vấn quản trị ngắn hạn hơn là đề tài nghiên cứu dài hạn.

Đối với 2 đề tài hợp tác quốc tế (với Đại học York, Vương quốc Anh), Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội là một trong những đơn vị đối tác được Đại học York lựa chọn tham gia nghiên cứu đề tài liên quan đến lĩnh vực kinh tế - xã hội. Do đặc thù thuộc lĩnh vực nêu trên, sản phẩm đầu ra của đề tài là các khuyến nghị chính sách và giải pháp quản trị tài chính. Kết quả nghiên cứu đã được nhà trường ứng dụng trực tiếp thông qua việc chuyển giao báo cáo tư vấn cho các cơ quan quản lý, tổ chức tài chính; đồng thời tích hợp trực tiếp vào bài giảng, giáo trình đào tạo sau đại học và tài liệu nghiên cứu chuyên sâu tại trường.

1 chương trình liên kết đang tạm dừng tuyển sinh do có sự thay đổi và điều chỉnh chính sách

Theo Thông tin tuyển sinh đại học năm 2026 (Ban hành theo Quyết định số 99/QĐ-ĐHTNH ngày 05 tháng 3 năm 2026 của Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội), nhà trường tuyển sinh 10 chỉ tiêu Chương trình liên kết đào tạo 2+2 ngành Kinh doanh quốc tế với Đại học Tài chính trực thuộc Chính phủ Liên bang Nga và 50 chỉ tiêu Chương trình liên kết đào tạo 2+2 ngành Ngôn ngữ Trung Quốc với Đại học Gia Hưng (Trung Quốc).

Trường Đại học Tài chính – Ngân hàng Hà Nội tuyển sinh các chương trình Cử nhân liên kết quốc tế (2+2; 1+2+1) năm 2026. Ảnh chụp màn hình
Trường Đại học Tài chính – Ngân hàng Hà Nội tuyển sinh các chương trình Cử nhân liên kết quốc tế (2+2; 1+2+1) năm 2026. Ảnh chụp màn hình

Chia sẻ về các chương trình liên kết đào tạo, văn bản phản hồi của nhà trường nêu, Chương trình liên kết với Đại học Tài chính trực thuộc Chính phủ Liên bang Nga hiện có 10 sinh viên đang theo học.

Đối với Chương trình liên kết 2+2 với Đại học Gia Hưng (Trung Quốc), do có sự thay đổi và điều chỉnh chính sách từ phía Bộ Giáo dục Trung Quốc, nhà trường đã tạm dừng chưa đưa vào khóa tuyển sinh năm 2026.

Về tình hình tốt nghiệp, do các chương trình liên kết đều đang trong lộ trình đào tạo giai đoạn đầu (giai đoạn 1 tại Việt Nam) nên hiện chưa có sinh viên tốt nghiệp.

Mạnh Dũng