Người học ngành xã hội cần nhưng khó tuyển sinh sẽ được Nhà nước hỗ trợ học phí: Trường nghề nói gì?

15/09/2026 06:22
Tường San

GDVN -Theo lãnh đạo một số trường cao đẳng, chính sách hỗ trợ học phí được quy định tại Nghị định số 334/2026/NĐ-CP không chỉ góp phần giảm gánh nặng tài chính cho người học mà còn giúp nhận thức đầy đủ hơn về tinh thần tự chủ trong giáo dục nghề nghiệp. 

Nghị định số 334/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian đã đặt ra nhiều chính sách mới đối với hoạt động giáo dục và đào tạo.

Đáng chú ý, Điều 9 của Nghị định quy định người học các ngành, nghề đặc thù hoặc ngành, nghề cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội nhưng khó thu hút người học sẽ được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí. Mức hỗ trợ được xác định bằng mức thu học phí thực tế của cơ sở giáo dục nhưng không vượt quá mức trần học phí áp dụng đối với cơ sở giáo dục công lập. Danh mục cụ thể các ngành, nghề thuộc diện được hỗ trợ sẽ do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Theo một số lãnh đạo cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đây là chính sách cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc tháo gỡ khó khăn về tuyển sinh, đồng thời góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu nhân lực của Việt Nam trong những lĩnh vực cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội.

Thể hiện tinh thần tự chủ gắn với trách nhiệm và gắn với sứ mạng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Trước điểm mới trên, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Trần Hữu Châu Giang – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế bày tỏ, đây là chính sách đúng hướng, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển giáo dục nghề nghiệp trong giai đoạn hiện nay.

Theo thầy Giang, chính sách này có thể tạo ra ít nhất 5 tác động tích cực đối với người học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và thị trường lao động.

736921985-2143469849545433-6400446455743810963-n.png
Ảnh minh họa. Nguồn: Website Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế

Thứ nhất, góp phần tháo gỡ rào cản về chi phí học tập – một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuyển sinh ở một số ngành giáo dục nghề nghiệp. Thực tế tuyển sinh cho thấy, một bộ phận học sinh và phụ huynh vẫn cân nhắc nhiều về khả năng chi trả khi lựa chọn ngành học. Khi được Nhà nước hỗ trợ học phí, người học sẽ có thêm cơ hội lựa chọn những ngành kỹ thuật mà trước đây có thể còn e ngại do chi phí hoặc chưa nhìn thấy ngay giá trị của nghề.

Thứ hai, giúp các trường duy trì và phát triển những ngành có giá trị xã hội cao nhưng quy mô tuyển sinh chưa lớn. Cần phân biệt rõ “ngành khó tuyển” không đồng nghĩa với “ngành không cần thiết”. Nếu chỉ căn cứ vào số lượng người học để quyết định sự tồn tại của một ngành đào tạo, chúng ta có thể đứng trước nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực cần thiết cho nền kinh tế trong tương lai.

Thứ ba, tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp mạnh dạn đầu tư vào những nhóm ngành kỹ thuật mà đất nước đang có nhu cầu lớn về nhân lực. Khi có chính sách hỗ trợ người học tương đối ổn định, nhà trường sẽ có thêm cơ sở để đầu tư đội ngũ, chương trình đào tạo, xưởng thực hành, thiết bị công nghệ, chuyển đổi số, hợp tác với doanh nghiệp và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo.

Thứ tư, chính sách có khả năng điều chỉnh “tín hiệu thị trường” trong tuyển sinh. Thị trường lao động có thể cần số lượng lớn kỹ thuật viên điện, tự động hóa, cơ khí chính xác, công nghiệp hỗ trợ hoặc năng lượng, trong khi người học lại có xu hướng tập trung vào những ngành được cho là dễ học hoặc có chi phí thấp. Vì vậy, hỗ trợ học phí không đơn thuần là giảm chi phí cho người học mà còn là một công cụ chính sách nhằm định hướng và thu hút nguồn nhân lực vào những lĩnh vực nền kinh tế đang thiếu.

Thứ năm, bước tiến quan trọng trong thực hiện tự chủ của cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, một trong những nguyên tắc của giáo dục nghề nghiệp là bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ, toàn diện cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp, gắn với trách nhiệm giải trình; đồng thời Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển giáo dục nghề nghiệp và bảo đảm nguồn lực để giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng lao động kỹ năng cao.

Như vậy, điểm mới này sẽ giúp chúng ta hiểu đúng rằng, tự chủ không đồng nghĩa với việc Nhà nước rút khỏi những ngành khó tuyển; đối với những ngành mà thị trường lao động và nền kinh tế có nhu cầu nhưng khả năng xã hội hóa còn hạn chế, Nhà nước cần xây dựng cơ chế đầu tư, hỗ trợ và đặt hàng phù hợp. Từ đó, thể hiện rõ tinh thần của tự chủ là gắn với trách nhiệm và gắn với sứ mạng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Không những vậy, theo thầy Giang, cần nhìn chính sách hỗ trợ học phí không chỉ dưới góc độ hỗ trợ người học mà rộng hơn, đây còn là chính sách đầu tư cho nguồn nhân lực của nền kinh tế. Đối với những gia đình còn khó khăn về kinh tế, khoản học phí trong suốt quá trình học có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định lựa chọn ngành nghề của học sinh.

Khi Nhà nước hỗ trợ học phí cho những ngành nghề đặc thù hoặc cần thiết nhưng khó thu hút người học, rào cản này sẽ được giảm bớt. Người học có thể cân nhắc ngành nghề dựa nhiều hơn vào năng lực, sở thích, cơ hội việc làm và triển vọng nghề nghiệp, thay vì chỉ dựa vào khả năng chi trả của gia đình.

Tuy nhiên, thầy Giang cho rằng, hỗ trợ học phí mới chỉ là điều kiện cần, chưa thể giải quyết căn bản bài toán thiếu nhân lực kỹ thuật nếu thiếu những chính sách đi kèm.

Cụ thể, cần hình thành một chuỗi chính sách với sự tham gia của ba bên: Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp. Trong đó, Nhà nước hỗ trợ học phí, đầu tư, đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ đối với những ngành nghề chiến lược, thiết yếu và khó xã hội hóa. Nhà trường phải chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo, chương trình, đội ngũ, thiết bị, môi trường học tập và khả năng thích ứng với công nghệ mới. Đồng thời, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, từ cùng xây dựng chương trình, tiếp nhận sinh viên thực tập đến tham gia đánh giá kỹ năng và tuyển dụng sau tốt nghiệp.

Giúp học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn có thêm cơ hội tiếp cận và lựa chọn nghề phù hợp

Cùng bàn về điểm mới trên, Thạc sĩ Nguyễn Quang Khải – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Tiền Giang cho rằng, chính sách hỗ trợ học phí cho người học các ngành, nghề đặc thù hoặc ngành nghề kinh tế - xã hội cần nhưng khó thu hút người học là rất cần thiết và phù hợp với thực tiễn. Chính sách này trước hết giúp giảm gánh nặng chi phí học tập cho người học và gia đình. Qua đó, người học sẽ có thêm động lực lựa chọn những ngành nghề xã hội đang cần nhưng hiện còn ít người theo học.

Đối với nhiều trường cao đẳng, đây là điều kiện thuận lợi để cải thiện công tác tuyển sinh. Nhà trường cũng có thể duy trì và phát triển những ngành nghề cần thiết cho thị trường lao động và địa phương. Việc phân bổ ngân sách gắn với sứ mạng, chất lượng và hiệu quả sẽ tạo động lực để các cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng đào tạo và chú trọng hơn đến kỹ năng nghề, khả năng có việc làm và kết quả đầu ra của người học.

300326-3t-2.png
Sinh viên Trường Cao đẳng Tiền Giang trong buổi học tập huấn. Ảnh: Website nhà trường

Đồng thời, chính sách cũng góp phần thúc đẩy sự gắn kết giữa nhà trường, doanh nghiệp và nhu cầu nhân lực thực tế. Tuy nhiên, việc triển khai cần công khai, minh bạch, đúng đối tượng và kịp thời. Nếu thực hiện tốt, chính sách sẽ vừa hỗ trợ người học, vừa góp phần phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội.

“Theo tôi, chính sách này có thể góp phần giải quyết tình trạng thiếu nhân lực bằng cách tạo động lực để nhiều học sinh lựa chọn những ngành nghề xã hội đang rất cần nhưng hiện còn khó tuyển sinh. Khi số người theo học tăng lên, các trường có điều kiện duy trì và mở rộng quy mô đào tạo, từ đó từng bước bổ sung nguồn lao động có kỹ năng cho thị trường.

Đối với người học, việc hỗ trợ học phí còn thể hiện ý nghĩa rất thiết thực vì giúp giảm một phần đáng kể áp lực tài chính cho bản thân và gia đình. Đặc biệt là với những học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chi phí học tập thấp hơn sẽ giúp các em có thêm cơ hội tiếp cận và lựa chọn nghề phù hợp thay vì phải từ bỏ việc học vì điều kiện kinh tế”, thầy Khải nói.

Giúp thu hút người học vào các ngành công nghiệp kỹ thuật và nghệ thuật truyền thống

Thông tin về thực tế đào tạo tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế, thầy Giang cho hay, nhà trường đang đào tạo nhiều ngành gắn trực tiếp với nhu cầu phát triển công nghiệp, song sức hút đối với học sinh phổ thông chưa phải lúc nào cũng tương xứng với nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp.

Trong hệ thống đào tạo của nhà trường, có thể kể đến một số nhóm ngành tiêu biểu như Công nghệ kỹ thuật Điện – Điện tử, Điện công nghiệp; Công nghệ kỹ thuật Điều khiển và Tự động hóa; Công nghệ kỹ thuật Cơ điện tử; Công nghệ kỹ thuật Cơ khí; Nhiệt – lạnh, điều hòa không khí và các ngành kỹ thuật chuyên sâu khác. Đây đều là những lĩnh vực có vai trò trực tiếp đối với hoạt động của nhà máy, khu công nghiệp, năng lượng, sản xuất thông minh, bảo trì thiết bị và chuyển đổi công nghiệp.

Bên cạnh đó, nhà trường cũng đào tạo các lĩnh vực điều khiển và tự động hóa, điện công nghiệp, điện – điện tử và chương trình Công nghệ kỹ thuật Điện – Điện tử chuyển giao theo chuẩn KOSEN Nhật Bản – lĩnh vực gắn với nhu cầu nhân lực kỹ thuật của công nghiệp hiện đại.

Tuy nhiên, thực tế tuyển sinh đang tồn tại một nghịch lý, đó là doanh nghiệp có nhu cầu lớn về kỹ thuật viên nhưng một bộ phận người học vẫn chưa thực sự ưu tiên lựa chọn các ngành kỹ thuật. Nguyên nhân là một số học sinh vẫn cho rằng cơ khí là công việc nặng nhọc, học điện nguy hiểm hoặc tự động hóa khó học.

Trong khi đó, cơ khí hiện nay đã gắn với CNC, CAD/CAM, robot và sản xuất thông minh; điện – điện tử gắn với tự động hóa, IoT và nhà máy thông minh; còn kỹ thuật viên tự động hóa có thể làm việc với PLC, SCADA, robot và nhiều hệ thống điều khiển hiện đại.

Chính vì vậy, nếu chính sách hỗ trợ học phí được triển khai đồng bộ, đúng đối tượng, thầy Giang tin rằng, đây sẽ là một “đòn bẩy” quan trọng đối với tuyển sinh các ngành kỹ thuật.

Theo đó, nhà trường không chỉ có thể truyền tải tới học sinh thông điệp “học ngành này được giảm hoặc hỗ trợ học phí”, mà quan trọng hơn là giúp các em hiểu rằng đây là những ngành nghề được Nhà nước xác định cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội; người học được hưởng chính sách hỗ trợ và sau khi tốt nghiệp có cơ hội làm việc trong những lĩnh vực doanh nghiệp đang có nhu cầu lớn về nhân lực.

Hơn nữa, chính sách còn có ý nghĩa quan trọng đối với các ngành kỹ thuật có yêu cầu thực hành cao. Trên thực tế, đối với những ngành nghề kĩ thuật, người học không chỉ cần thời gian học lý thuyết mà còn phải được thực hành trên máy móc, thiết bị, xưởng thực hành và trải nghiệm tại doanh nghiệp. Nếu quy mô tuyển sinh không đủ, nhà trường sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì hệ thống đào tạo kỹ thuật chuyên sâu với chất lượng cao.

Vậy nên, việc hỗ trợ học phí có thể tạo ra hiệu ứng kép: Một mặt giảm gánh nặng tài chính cho người học; mặt khác tạo điều kiện để nhà trường duy trì quy mô và năng lực đào tạo những ngành mà nền kinh tế đang cần.

Mặt khác, với Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế, thầy Giang cho biết, nhà trường luôn xác định trách nhiệm không chỉ là tuyển được sinh viên vào những ngành khó tuyển, mà quan trọng hơn là đào tạo để các em có việc làm và phát triển nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp. Vì vậy, nhà trường mong muốn, chính sách hỗ trợ học phí được triển khai đồng bộ với các chính sách về đầu tư cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ, đặt hàng đào tạo, liên kết doanh nghiệp và hỗ trợ việc làm.

Nếu được triển khai đồng bộ với các chính sách liên quan, chính sách hỗ trợ học phí có thể tạo ra tác động tích cực theo một chuỗi liên kết. Khi những ngành khó tuyển được Nhà nước hỗ trợ, người học sẽ mạnh dạn lựa chọn hơn, qua đó giúp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp duy trì quy mô tuyển sinh và có thêm nguồn lực để nâng cao năng lực đào tạo. Khi chất lượng đào tạo được cải thiện, sinh viên có nhiều cơ hội việc làm và phát triển nghề nghiệp sau tốt nghiệp. Đây cũng là yếu tố góp phần nâng cao sức hấp dẫn của những ngành vốn khó tuyển, từ đó tiếp tục thu hút người học trong những mùa tuyển sinh tiếp theo. Đây mới là mục tiêu cuối cùng của chính sách.

Tuy nhiên, theo thầy Giang, các trường không nên xem chính sách hỗ trợ học phí là giải pháp duy nhất cho tuyển sinh. Cùng với chính sách này, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, hiện đại hóa thiết bị, tăng thời lượng thực hành, gắn chương trình với doanh nghiệp và chứng minh hiệu quả đào tạo bằng kết quả việc làm của sinh viên.

Còn theo Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Tiền Giang, những năm trước, nhà trường có đào tạo một số nghề đặc thù khó tuyển sinh như Thanh nhạc, Nghệ thuật biểu diễn, Nghệ thuật múa, Nghệ thuật đàn ca tài tử, Cắt gọt kim loại. Do khó tuyển sinh, hiện nay nhà trường chỉ còn đào tạo nghề Thanh nhạc và Cắt gọt kim loại với số lượng người học không nhiều. Tuy nhiên, theo thầy Khải đánh giá, đây đều là những nghề địa phương đang rất cần nhân lực.

Trước thực tiễn đào tạo tại trường, thầy Khải cho rằng, chính sách hỗ trợ học phí đối với ngành nghề đặc thù sẽ tạo thêm “đòn bẩy” rất rõ trong tuyển sinh. Khi gánh nặng học phí được giảm, học sinh và phụ huynh sẽ mạnh dạn cân nhắc những nghề mà trước đây còn e ngại dù bản thân có năng khiếu hay có nhu cầu, …

Điều này tất yếu sẽ giúp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nói chung và nhà trường nói riêng mở rộng nguồn tuyển, duy trì được những ngành xã hội đang cần nhưng khó tuyển sinh, đồng thời có điều kiện đầu tư tốt hơn cho đội ngũ, thiết bị và chất lượng đào tạo.

Quan trọng hơn, nếu chính sách học phí được kết hợp với tư vấn hướng nghiệp, thông tin rõ về nhu cầu lao động, thu nhập và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp thì sức hút của những ngành nghề này sẽ tăng đáng kể. Khi đó, chính sách không chỉ giải quyết bài toán tuyển sinh cho nhà trường mà còn góp phần điều tiết nguồn nhân lực theo đúng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Tường San