Nghị định 334 giúp CSGD “cởi trói” nhiều nút thắt trong tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế

06/09/2026 06:22
Tường San
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN -Điểm tháo gỡ lớn nhất trong việc trao quyền tự chủ tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế chính là giảm tầng nấc hành chính trong quyết định tổ chức hoạt động học thuật quốc tế thông thường, rút ngắn thời gian chuẩn bị và tăng quyền chủ động của các trường.

Theo Nghị định số 334/2026/NĐ-CP quy định về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian của Chính phủ, các cơ sở giáo dục sẽ được tự chủ tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật.

Việc được chủ động hơn trong tổ chức hội thảo quốc tế được một số lãnh đạo cơ sở giáo dục đại học đánh giá sẽ giúp các nhà trường có những thay đổi thuận lợi trong hoạt động đào tạo, đặc biệt là với khối ngành công nghệ mới đang rất cần nhân lực giỏi hiện nay.

Giảm tầng nấc hành chính trong quyết định tổ chức hoạt động học thuật quốc tế

Trao đổi về quyền tự chủ tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế theo Nghị định số 334/2026/NĐ-CP với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Thái Doãn Thanh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định, đây là một bước tiến rất đáng ghi nhận trong chính sách tự chủ đại học của nước ta.

Thầy Thanh thông tin, điểm nghẽn dễ nhận thấy trong việc tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế lâu nay chính là quy trình xin phép tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế.

Theo cơ chế quản lý hiện hành, việc tổ chức hội nghị, hội thảo có yếu tố nước ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy định riêng về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế. Trong nhiều trường hợp, cơ sở giáo dục phải xây dựng hồ sơ, đề án, thực hiện quy trình xin phép và chờ cơ quan có thẩm quyền xem xét. Điều này mặc dù là cần thiết trong quản lý nhà nước, nhưng trong thực tiễn hoạt động khoa học có thể làm tăng thời gian chuẩn bị và giảm khả năng phản ứng nhanh trước các cơ hội hợp tác quốc tế.

Nghị định 334/2026/NĐ-CP tạo ra một thay đổi quan trọng khi xác lập rõ quyền tự chủ của cơ sở giáo dục trong tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế.

s4.jpg
Một trong những phiên thảo luận chuyên sâu tại Hội thảo Quốc tế về Kinh tế lần thứ 3 (The 3rd International Conference on Economics – ICE 2026) của Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Website nhà trường.

Tuy nhiên, theo thầy Thanh, cũng cần hiểu đúng rằng, tự chủ không có nghĩa là không còn bất kỳ thủ tục quản lý nào. Nghị định này quy định rõ, nếu hội nghị, hội thảo có nội dung liên quan đến quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, quyền con người, bí mật nhà nước, hợp tác quốc tế về pháp luật và cải cách tư pháp hoặc có thành phần tham dự thuộc diện pháp luật quy định phải báo cáo, xin phép thì cơ sở giáo dục vẫn phải thực hiện đầy đủ các quy định có liên quan.

Đặc biệt, thầy Thanh cho rằng cần phân biệt thủ tục tổ chức hội nghị, hội thảo với thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh, thị thực, giấy phép lao động hoặc các thủ tục khác đối với chuyên gia nước ngoài. Nghị định 334 trao quyền tự chủ về tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế nhưng không đương nhiên bãi bỏ toàn bộ các thủ tục về xuất nhập cảnh hay các nghĩa vụ pháp lý khác đối với người nước ngoài. Những nội dung đó vẫn phải thực hiện theo pháp luật chuyên ngành tương ứng.

Như vậy, điểm tháo gỡ lớn nhất trong việc trao quyền tự chủ tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế chính là giảm tầng nấc hành chính trong quyết định tổ chức hoạt động học thuật quốc tế thông thường, rút ngắn thời gian chuẩn bị và tăng quyền chủ động của cơ sở giáo dục.

Cũng theo thầy Thanh, điều quan trọng nhất của điểm mới này không chỉ là giảm bớt một số thủ tục hành chính mà còn là trao cho các cơ sở giáo dục đại học quyền chủ động lớn hơn trong việc quyết định các hoạt động học thuật và hợp tác quốc tế gắn trực tiếp với sứ mạng của mình.

Thứ nhất, về tần suất và tính kịp thời, trường đại học có thể chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế theo nhu cầu thực tế của từng ngành, từng nhóm nghiên cứu và từng chương trình đào tạo, thay vì phải phụ thuộc nhiều vào thời gian thực hiện các thủ tục xin phép từ bên ngoài. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong khoa học và công nghệ, bởi nhiều chủ đề mới như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ thực phẩm, công nghệ sinh học, chuyển đổi xanh, kinh tế số hay phát triển bền vững thay đổi rất nhanh và đòi hỏi hoạt động trao đổi học thuật phải được tổ chức kịp thời.

Thứ hai, về quy mô và nội dung, trường đại học có điều kiện chủ động tổ chức đa dạng hơn các loại hình hoạt động: từ hội thảo khoa học quốc tế quy mô lớn đến seminar chuyên sâu, diễn đàn học thuật, tọa đàm giữa các nhóm nghiên cứu, hội nghị kết nối đại học - doanh nghiệp, các chương trình trao đổi học thuật trực tiếp hoặc trực tuyến.

Thứ ba, quyền tự chủ sẽ tạo thuận lợi đáng kể trong việc mời chuyên gia, giáo sư và nhà khoa học quốc tế. Khi có một chuyên gia phù hợp đang làm việc hoặc có lịch trình tại Việt Nam, hoặc khi một đối tác quốc tế đề xuất tổ chức một hoạt động học thuật trong thời gian ngắn, trường đại học có khả năng phản ứng nhanh hơn, chủ động hơn trong việc xây dựng chương trình và bố trí nguồn lực.

“Tôi cho rằng, thay đổi quan trọng nhất khi trao quyền tự chủ tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế cho các cơ sở giáo dục đại học chính là chuyển từ tư duy “xin phép để tổ chức” sang tư duy “nhà trường chủ động quyết định và chịu trách nhiệm” đối với các hoạt động học thuật thuộc phạm vi được pháp luật cho phép”, thầy Thanh nhấn mạnh.

Cũng theo thầy Thanh, hội nghị, hội thảo quốc tế không đơn thuần là một sự kiện khoa học. Nếu được tổ chức tốt, đây chính là một trong những phương thức hiệu quả nhất để xây dựng mạng lưới học thuật và hình thành các quan hệ hợp tác lâu dài.

Khi nhà trường chủ động hơn, chúng ta có thể thiết kế hội thảo quốc tế gắn trực tiếp với chiến lược quốc tế hóa và chiến lược khoa học - công nghệ của trường, thay vì tổ chức những sự kiện mang tính đơn lẻ.

Từ một hội thảo, các nhà khoa học có thể hình thành nhóm nghiên cứu chung; từ nhóm nghiên cứu có thể phát triển thành công bố quốc tế, đề tài hoặc dự án nghiên cứu chung; từ quan hệ giữa các nhà khoa học có thể tiến tới trao đổi giảng viên, sinh viên, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, xây dựng chương trình đào tạo liên kết và ký kết hợp tác giữa các trường đại học.

Không những vậy, nhà trường có thể chủ động mời những nhà khoa học có uy tín, các nhóm nghiên cứu mạnh, các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ quốc tế tham gia những lĩnh vực mà Trường xác định là thế mạnh. Qua đó, từng bước hình thành các mạng lưới nghiên cứu quốc tế có sự tham gia và vai trò ngày càng rõ nét của nhà trường.

Về lâu dài, điều này sẽ tác động trực tiếp đến số lượng và chất lượng công bố quốc tế, dự án nghiên cứu chung, khả năng thu hút chuyên gia và sinh viên quốc tế, cũng như mức độ nhận diện của nhà trường trong cộng đồng học thuật.

Cùng bàn về vấn đề trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hùng Cường – Hiệu trưởng Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp cho rằng, quy định mới này sẽ tháo gỡ được những thủ tục mang tính pháp lý, các bước chuẩn bị cho việc tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế. Nhờ vậy, việc tổ chức một hội thảo quốc tế không cần quá nhiều thời gian chuẩn bị như trước đây.

1-1.jpg
Quang cảnh Hội thảo “Mỹ thuật ứng dụng trong xu thế hội nhập quốc tế” của Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp. Ảnh: Website nhà trường.

Đồng thời, việc chủ động hơn trong tổ chức hội thảo quốc tế sẽ giúp nhiều cơ sở giáo dục đại học như Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp được giảm bớt các thủ tục pháp lý cần nhiều thời gian như việc xác nhận lý lịch của các tác giả là nhà khoa học nước ngoài, báo cáo thông qua nội dung các bài tham luận để được cấp phép trước ngày tổ chức hội thảo một khoảng thời gian nhất định. Nhờ đó tạo nhiều thuận lợi hơn cho nhà trường trong việc mời các chuyên gia, nhà khoa học quốc tế, cũng như chủ động hơn về nội dung, tần suất tổ chức hội thảo quốc tế.

Đối với riêng Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, quyền được tự chủ trong tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế sẽ giúp trường được mở rộng mạng lưới học thuật quốc tế, kết nối nghiên cứu và hợp tác đào tạo; nâng cao vị thế của nhà trường về họa thuật.

Giúp cơ sở giáo dục đại học nắm bắt được cơ hội học thuật đúng thời điểm

Trong khi đó, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Gia Như - Hiệu trưởng Trường Khoa học Máy tính và Trí tuệ Nhân tạo (SCA) - Đại học Duy Tân, Phó Giám đốc Đại học Duy Tân cho hay, điểm nghẽn lớn nhất từ trước đến nay trong tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế chính là độ trễ giữa quyết định học thuật và quyết định hành chính.

Cụ thể, khi một đơn vị chuyên môn muốn tổ chức một hội thảo quốc tế, ngoài việc chuẩn bị nội dung khoa học, khách mời, tài chính, địa điểm và hậu cần, còn có thể phải dành đáng kể thời gian cho quy trình hồ sơ, báo cáo và chờ các thủ tục liên quan. Với những hội nghị đã lên kế hoạch trước một năm thì có thể xử lý được, nhưng với các hoạt động học thuật cần phản ứng nhanh thì đây là hạn chế rất lớn.

639197228735325600-1-1.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: Website Trường Khoa học Máy tính và trí tuệ Nhân tạo, Đại học Duy Tân.

Chính vì vậy, thầy Như cho rằng, quy định mới đã thay đổi tư duy quản lý theo hướng rất đáng chú ý. Với những hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế thông thường, cơ sở giáo dục được chủ động tổ chức và đồng thời chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Điều này sẽ giảm ít nhất ba loại chi phí. Một là chi phí thời gian, do giảm các tầng nấc xin ý kiến đối với những hoạt động thông thường. Hai là chi phí cơ hội, bởi trường sẽ ít bỏ lỡ các giáo sư, nhà khoa học hoặc đối tác quốc tế chỉ có thể đến Việt Nam trong một thời gian ngắn. Ba là chi phí tổ chức, vì kế hoạch hội thảo, vé máy bay, khách sạn và lịch trình của diễn giả có thể được quyết định sớm và chủ động hơn.

Vì vậy, có thể nói chính xác rằng, chính sách mới đã tháo gỡ một điểm nghẽn rất lớn về thủ tục tổ chức hội thảo, nhưng để tạo ra một môi trường học thuật quốc tế thực sự thông thoáng, chúng ta còn cần tiếp tục cải thiện các thủ tục liên quan đến chuyên gia và nhà khoa học quốc tế.

Cũng theo thầy Như, thay đổi quan trọng nhất khi các trường đại học được tự chủ trong tổ chức hội thảo không đơn thuần là có thể tổ chức nhiều hội thảo hơn, mà là có thể tổ chức hội thảo nhanh hơn, đúng thời điểm hơn và gắn chặt hơn với nhu cầu học thuật thực tế.

Đối với nghiên cứu khoa học hiện nay, đặc biệt ở những lĩnh vực có tốc độ phát triển rất nhanh như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, an ninh mạng, công nghệ sinh học hay công nghệ lượng tử, cơ hội hợp tác đôi khi chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian rất ngắn. Một giáo sư quốc tế đến Việt Nam, một nhóm nghiên cứu hàng đầu đang có chuyến công tác trong khu vực, hoặc một công nghệ mới vừa xuất hiện đều có thể tạo ra cơ hội để tổ chức ngay một seminar, workshop hay hội thảo chuyên sâu. Tuy nhiên, nếu quá trình chuẩn bị hành chính kéo dài, cơ hội học thuật đó có thể đã qua. Trong khi đó, nếu được trao quyền tự chủ, trường đại học có thể linh hoạt hơn ở nhiều phương diện

“Tôi nhìn vấn đề này rộng hơn câu chuyện tổ chức sự kiện. Một hội thảo quốc tế tốt không nên kết thúc khi hội thảo đó bế mạc mà phải là điểm khởi đầu của một chuỗi hợp tác”, thầy Như nói.

Hơn nữa, theo thầy Như, trong khoa học hiện đại, năng lực của một trường đại học ngày càng phụ thuộc vào vị trí của trường trong mạng lưới tri thức toàn cầu. Không một đại học nào, kể cả những đại học hàng đầu thế giới có thể nghiên cứu một mình. Chính vì vậy, khi thủ tục tổ chức giao lưu học thuật quốc tế trở nên linh hoạt hơn, các trường Việt Nam có cơ hội chuyển từ mô hình “tham gia mạng lưới quốc tế” sang “chủ động tạo lập và dẫn dắt mạng lưới quốc tế”.

Đơn cử, một trường có thế mạnh về AI hoàn toàn có thể chủ động xây dựng một diễn đàn thường niên về AI tại Việt Nam và mời các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ lớn trên thế giới tham gia. Nếu duy trì được một cộng đồng khoa học quốc tế xung quanh những lĩnh vực thế mạnh, uy tín học thuật của trường sẽ được hình thành một cách tự nhiên và bền vững hơn rất nhiều so với các hoạt động quảng bá đơn thuần.

Ngoài ra, hội thảo quốc tế còn tạo cơ hội rất lớn cho người trẻ. Một nghiên cứu sinh hay một giảng viên trẻ tại Việt Nam có thể gặp trực tiếp một giáo sư hàng đầu thế giới, trình bày nghiên cứu của mình và từ cuộc trao đổi đó hình thành một cơ hội postdoc, một bài báo chung hay một dự án hợp tác. Trong khoa học, rất nhiều hợp tác lớn bắt đầu từ một cuộc trao đổi nhỏ. Do đó, việc tạo điều kiện cho giao lưu học thuật quốc tế chính là tạo thêm những 'điểm kết nối' cho hệ sinh thái nghiên cứu của Việt Nam với thế giới.

Làm sao để Việt Nam trở thành điểm đến thường xuyên của các hội nghị khoa học và công nghệ lớn toàn cầu?

Để chính sách này thực sự phát huy hiệu quả, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, cần quan tâm đồng thời cả “trao quyền” và “năng lực thực hiện quyền tự chủ”.

Một là, các cơ quan quản lý nhà nước nên sớm có hướng dẫn hoặc cơ chế phối hợp thật rõ ràng để xác định những hội nghị, hội thảo nào cơ sở giáo dục được hoàn toàn chủ động quyết định và những trường hợp nào vẫn phải báo cáo hoặc xin phép. Ranh giới càng rõ thì các trường càng mạnh dạn thực hiện quyền tự chủ và cơ quan quản lý cũng thuận lợi hơn trong công tác hậu kiểm.

Hai là, cần tiếp tục số hóa và liên thông thủ tục đối với những trường hợp vẫn phải báo cáo, xin phép. Nếu một hội thảo thuộc diện cần ý kiến của nhiều cơ quan thì nên có cơ chế một cửa điện tử, tránh việc cơ sở giáo dục phải thực hiện nhiều quy trình riêng biệt.

Ba là, cần nghiên cứu tạo thuận lợi hơn về thị thực và thủ tục nhập cảnh đối với giáo sư, nhà khoa học, chuyên gia quốc tế đến Việt Nam trong thời gian ngắn để tham dự hội nghị, giảng dạy, nghiên cứu hoặc trao đổi học thuật. Khi quyền chủ động tổ chức hội thảo được mở rộng nhưng việc mời chuyên gia vẫn mất nhiều thời gian thì hiệu quả của chính sách tự chủ chưa thể phát huy đầy đủ.

Bốn là, về phía các cơ sở giáo dục, bản thân nhà trường cũng phải xây dựng quy trình quản trị nội bộ mới. Tự chủ không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Trường đại học cần quy định rõ thẩm quyền quyết định, trách nhiệm của đơn vị chủ trì, quy trình rà soát nội dung và khách mời quốc tế, quản lý tài chính - tài trợ, truyền thông, bảo vệ bí mật nhà nước, sở hữu trí tuệ, an ninh dữ liệu và trách nhiệm báo cáo sau hội nghị.

Năm là, cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả của hội nghị, hội thảo quốc tế. Không nên chỉ đánh giá bằng số lượng sự kiện hoặc số lượng đại biểu quốc tế, mà quan trọng hơn là kết quả sau hội thảo: có bao nhiêu nhóm nghiên cứu chung được hình thành và bao nhiêu công bố quốc tế, đề tài, dự án, chương trình trao đổi, thỏa thuận hợp tác hoặc sản phẩm chuyển giao công nghệ được phát triển.

Nếu thực hiện theo hướng đó, quyền tự chủ được quy định tại Nghị định 334/2026/NĐ-CP sẽ không chỉ giúp các trường “tổ chức hội thảo thuận lợi hơn”, mà quan trọng hơn là tạo thêm một công cụ để các trường đại học Việt Nam nâng cao năng lực nghiên cứu, đẩy mạnh quốc tế hóa và từng bước nâng cao vị thế trong mạng lưới giáo dục đại học khu vực và quốc tế.

Còn theo Phó Giám đốc Đại học Duy Tân, Nghị định 334/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 5/10/2026, vì vậy giai đoạn triển khai sắp tới sẽ rất quan trọng. Việt Nam nên coi việc thu hút các hội nghị khoa học quốc tế lớn là một phần của chiến lược khoa học, công nghệ và ngoại giao tri thức quốc gia. Việt Nam có lợi thế lớn về vị trí địa lý, môi trường ổn định, chi phí cạnh tranh và một cộng đồng khoa học đang phát triển nhanh. Khi các đại học được trao quyền chủ động hơn và những thủ tục có liên quan tiếp tục được cải cách, chúng ta hoàn toàn có thể hướng tới việc Việt Nam trở thành một điểm đến thường xuyên của các hội nghị khoa học và công nghệ lớn trong khu vực châu Á và toàn cầu.

Tường San