Trường nghề và doanh nghiệp "bắt tay" lập trung tâm đào tạo: Làm sao để liên kết đi vào thực chất?

18/09/2026 06:26
Tường San

GDVN -Ngay từ khi xây dựng mô hình liên kết để thành lập khoa/trung tâm/đơn vị đào tạo chuyên môn, phải có phương án để trong mọi tình huống, sinh viên vẫn được tiếp tục học, kết quả đã tích lũy được công nhận và các quyền lợi đã cam kết được bảo đảm.

Quy định cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể liên kết với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, tổ chức giáo dục, doanh nghiệp trong nước để thành lập khoa, trung tâm hoặc đơn vị đào tạo chuyên môn tại Thông tư số 72/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về liên kết tổ chức thực hiện chương trình đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp đang nhận được sự ủng hộ từ nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Rủi ro của sự hợp tác không thể chuyển sang người học là nguyên tắc xuyên suốt

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Nhà giáo Ưu tú, Tiến sĩ Phạm Xuân Khánh – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội bày tỏ, lợi ích rõ nhất khi triển khai mô hình đào tạo trên là nhà trường và doanh nghiệp có thể đưa nguồn lực của hai bên vào cùng một quá trình đào tạo, thay vì mỗi bên đầu tư và vận hành tương đối độc lập.

z4356039385440-43d904fcc6a33649a930a55f95ff67cc.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: Website Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội

Một bên là cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đội ngũ, chương trình và năng lực tổ chức đào tạo; một bên là doanh nghiệp có công nghệ, thiết bị, chuyên gia và môi trường sản xuất thực tế. Thông tư số 72/2026/TT-BGDĐT tạo cơ sở để những nguồn lực đó được huy động, chia sẻ và khai thác hiệu quả hơn. Nhờ vậy, người học được hưởng lợi ích trực tiếp khi được tiếp cận sớm với công nghệ, quy trình và yêu cầu thực tế của vị trí việc làm, từ đó giảm thời gian thích nghi sau khi tốt nghiệp. Với nhà trường, quá trình làm việc thường xuyên với doanh nghiệp cũng giúp chương trình đào tạo được cập nhật sát hơn với sự thay đổi của sản xuất.

Tuy nhiên, theo thầy Khánh, khi doanh nghiệp hoặc các đối tác cùng tham gia với cơ sở giáo dục nghề nghiệp để thành lập khoa hoặc trung tâm, mức độ gắn kết sâu hơn tất yếu cũng đòi hỏi cách quản trị cũng phải chặt chẽ hơn. Điều quan trọng không chỉ là ghi đầy đủ trách nhiệm trong hợp đồng, mà phải xác định rõ quyền quyết định và trách nhiệm.

Cụ thể, tài chính phải minh bạch; tài sản công phải được quản lý, khai thác đúng quy định; kết quả nghiên cứu phải xác định rõ quyền sở hữu, quyền sử dụng và phân chia lợi ích. Riêng với chất lượng đào tạo, dù doanh nghiệp tham gia sâu đến đâu, nhà trường vẫn phải giữ trách nhiệm cuối cùng đối với chuẩn đầu ra và người học.

“Ở vị trí của một cơ sở đào tạo, điều chúng tôi quan tâm không chỉ là xử lý tranh chấp khi phát sinh, mà là bảo đảm hoạt động đào tạo không bị gián đoạn khi quan hệ hợp tác thay đổi. Doanh nghiệp có thể điều chỉnh công nghệ, chiến lược đầu tư hoặc nhu cầu nhân lực; vì vậy, ngay từ khi xây dựng mô hình phải có phương án để trong mọi tình huống, sinh viên vẫn được tiếp tục học, kết quả đã tích lũy được công nhận và các quyền lợi đã cam kết được bảo đảm.

Nhà trường và doanh nghiệp có thể cùng chia sẻ nguồn lực, lợi ích và cả rủi ro, nhưng rủi ro của sự hợp tác không thể chuyển sang người học. Tôi cho rằng đó phải là nguyên tắc xuyên suốt khi tổ chức và giám sát mô hình này”, thầy Khánh nhấn mạnh.

Chính sách có ý nghĩa lớn với cơ sở giáo dục nghề nghiệp ngoài công lập

Cùng bàn về vấn đề trên, Thạc sĩ Phan Thị Lệ Thu – Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Viễn Đông cho rằng, đây là một chủ trương rất phù hợp với xu hướng phát triển của giáo dục nghề nghiệp hiện nay, bởi đào tạo nghề muốn đáp ứng đúng nhu cầu thị trường lao động thì nhà trường không thể hoạt động tách rời doanh nghiệp.

Đối với Trường Cao đẳng Viễn Đông, vấn đề này càng có ý nghĩa khi nhà trường là một cơ sở giáo dục nghề nghiệp ngoài công lập. Với đặc thù của trường ngoài công lập, việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và công nghệ phải được tính toán theo hướng trọng điểm, hiệu quả và phù hợp với nhu cầu đào tạo vì không thể đầu tư dàn trải theo quy mô số lượng như một số trường công lập có nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước.

Theo đó, việc liên kết thành lập khoa, trung tâm hoặc đơn vị đào tạo chuyên môn sẽ tạo điều kiện để nhà trường huy động được thêm nguồn lực từ doanh nghiệp về đội ngũ chuyên gia, cơ sở vật chất, thiết bị, công nghệ và môi trường thực hành thực tế. Đặc biệt, doanh nghiệp có thể tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo, đánh giá năng lực và tuyển dụng người học sau tốt nghiệp.

screenshot-2026-08-15-165346.png
Sinh viên Trường Cao đẳng Viễn Đông. Ảnh: Website nhà trường

Đối với sinh viên, lợi ích lớn nhất là các em không chỉ được học kiến thức và kỹ năng tại trường mà còn có cơ hội “học trong môi trường thực tế của doanh nghiệp”. Các em được tiếp cận với máy móc, công nghệ, quy trình sản xuất – kinh doanh, tác phong công nghiệp và yêu cầu thực tế của từng vị trí việc làm. Nhờ vậy, khoảng cách giữa “được đào tạo” và “được làm việc” sẽ được rút ngắn, giúp sinh viên tự tin hơn khi bước vào thị trường lao động.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng là bên được hưởng lợi. Khi tham gia ngay từ quá trình xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo, hướng dẫn thực hành, thực tập và đánh giá năng lực sinh viên, doanh nghiệp có thể chủ động tiếp cận và lựa chọn được nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu thực tế của mình. Thay vì tuyển dụng rồi mới phải đào tạo lại, doanh nghiệp có thể cùng nhà trường “đặt hàng” và tham gia đào tạo nguồn nhân lực theo đúng nhu cầu.

Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Viễn Đông cũng cho rằng, cần xác định cụ thể trách nhiệm của từng bên về tài chính, nhân sự, cơ sở vật chất, thiết bị, chương trình đào tạo, tuyển sinh, tổ chức đào tạo, đánh giá người học và cấp văn bằng, chứng chỉ khi triển khai mô hình đào tạo trên.

Theo đó, đối với tài sản công, phải đặc biệt tuân thủ các quy định của pháp luật, phân định rõ tài sản nào thuộc nhà trường, tài sản nào do doanh nghiệp đầu tư và cơ chế quản lý, khai thác, bảo quản, xử lý khi chấm dứt liên kết; đối với tài chính, cần có nguyên tắc thu – chi, phân bổ chi phí và doanh thu minh bạch, công khai, đặc biệt không để phát sinh những khoản chi phí bất hợp lý mà người học không được thông tin rõ ràng.

Đặc biệt, “chất lượng người học” phải được đưa vào một trong những đối tượng đối soát quan trọng nhất giữa nhà trường và doanh nghiệp. Bởi, nếu chỉ đối soát xem doanh nghiệp đã đầu tư bao nhiêu thiết bị, nhà trường đã bố trí bao nhiêu giảng viên, bao nhiêu sinh viên được thực tập… thì vẫn chưa đủ để đánh giá hiệu quả của một mô hình liên kết. Kết quả cuối cùng phải được thể hiện ở năng lực của người học sau quá trình đào tạo.

Do đó, nhà trường và doanh nghiệp cần thống nhất ngay từ đầu bộ tiêu chí đánh giá chất lượng người học, bao gồm kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề, khả năng thực hành, năng lực sử dụng công nghệ, kỹ năng mềm, tác phong và kỷ luật lao động, khả năng thích ứng với môi trường doanh nghiệp cũng như mức độ đáp ứng yêu cầu của từng vị trí việc làm.

Việc đối soát cũng không nên chỉ thực hiện một lần khi sinh viên tốt nghiệp mà cần được thực hiện định kỳ trong suốt quá trình đào tạo. Chẳng hạn, kết quả học tập và thực hành tại trường được đối chiếu với kết quả thực tập tại doanh nghiệp; đánh giá của giảng viên được đối chiếu với đánh giá của người hướng dẫn tại doanh nghiệp; sau khi tốt nghiệp có thể tiếp tục khảo sát mức độ đáp ứng công việc của người học và phản hồi của doanh nghiệp tuyển dụng.

Từ những kết quả này, nếu doanh nghiệp phản ánh sinh viên còn yếu ở một kỹ năng nào đó thì nhà trường phải xem đây là dữ liệu đầu vào để điều chỉnh chương trình và phương pháp đào tạo, chứ không đơn thuần là một báo cáo đánh giá.

Tức là, mọi thỏa thuận liên kết cần có cơ chế đối soát định kỳ không chỉ về tài chính, tài sản, tiến độ thực hiện và trách nhiệm của các bên, mà quan trọng nhất là đối soát về chất lượng người học và hiệu quả đầu ra.

Nếu người học đạt chuẩn, doanh nghiệp tuyển dụng được đúng người, nhà trường nâng cao được chất lượng đào tạo thì đó mới là một mô hình liên kết thành công và bền vững. Ngược lại, nếu sau một thời gian liên kết mà chất lượng người học không được cải thiện thì các bên cần phải nghiêm túc đánh giá lại mô hình, điều chỉnh hoặc thậm chí chấm dứt hợp tác nếu cần thiết.

Rào cản nào dễ xảy ra khi triển khai mô hình liên kết?

Còn theo Thạc sĩ Huỳnh Ngọc Hợi – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Phương Đông, mô hình liên kết thành lập khoa, trung tâm hay đơn vị đào tạo chuyên môn giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các đơn vị đối tác/doanh nghiệp là bước đột phá giúp xóa bỏ khoảng cách giữa lý thuyết giảng dạy và thực tế sản xuất.

Song, với chương trình đào tạo, cần lưu ý, xem xét Thông tư 55/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp như: Đảm bảo chuẩn đầu ra tối thiểu, dù linh hoạt thay đổi mô-đun hay bài học theo yêu cầu doanh nghiệp, người học sau khi tốt nghiệp vẫn phải đáp ứng đủ các năng lực chuyên môn cốt lõi, năng lực ngoại ngữ, năng lực số và kỹ năng xanh theo quy định tại Điều 5; Tổng số tín chỉ và khối lượng thời lượng tối thiểu của từng trình độ (Cao đẳng, Trung cấp, Trung học nghề) phải được bảo đảm theo khung chuẩn; Đúng quy trình thẩm định và cập nhật việc bổ sung hay thay đổi nội dung đào tạo cùng doanh nghiệp cần được Hội đồng khoa học/thẩm định của cơ sở giáo dục nghề nghiệp thông qua và ban hành chính thức theo đúng thẩm quyền.

585803604-1443764944421493-7217716921711209637-n.jpg
Trường Cao đẳng Phương Đông trong buổi hợp tác cùng Thép Hòa Phát Dung Quất. Ảnh: Website nhà trường

Đáng nói, theo thầy Hợi, rào cản lớn nhất khi triển khai mô hình thành lập khoa/trung tâm liên kết này giữa nhà trường và doanh nghiệp hiện nay sự xung đột về mục tiêu cốt lõi và thiếu cơ chế pháp lý - tài chính rõ ràng giữa hai bên.

Trường học hướng đến chuẩn hóa giáo dục lâu dài và hoàn thành nhiệm vụ công, trong khi doanh nghiệp lại ưu tiên tối ưu hóa chi phí, năng suất và lợi nhuận ngắn hạn. Nhà trường cần đảm bảo khung chương trình toàn diện để cấp bằng chuẩn quốc gia; doanh nghiệp chỉ cần nhân sự làm được việc ngay trên dòng sản phẩm cụ thể của họ. Doanh nghiệp vận hành theo nhịp độ thị trường, thay đổi công nghệ theo tháng. Trong khi đó, quy trình phê duyệt điều chỉnh chương trình hay nhân sự của cơ sở giáo dục thường mất nhiều thời gian do ràng buộc hành chính. Việc hợp tác dùng chung đất đai, nhà xưởng của trường công lập hoặc hạch toán máy móc doanh nghiệp mang vào trường dễ vướng quy định về quản lý tài sản công. Doanh nghiệp ngại rủi ro khi hạch toán chi phí đào tạo vào giá thành sản xuất nếu chưa có chính sách miễn giảm thuế rõ ràng cho các khoản đầu tư này.

Mặt khác, rủi ro về cam kết nhân sự khi doanh nghiệp lo ngại vấn đề chảy máu xám: bỏ chi phí lớn để xây dựng trung tâm và đào tạo nhưng sinh viên sau khi tốt nghiệp lại sang làm cho đối thủ cạnh tranh. Thiếu cơ chế ràng buộc pháp lý đủ mạnh giữa ba bên (Nhà trường - Doanh nghiệp - Người học) về trách nhiệm phục vụ sau đào tạo.

Làm sao để chuyển từ có liên kết sang liên kết có giá trị?

Cũng theo Tiến sĩ Phạm Xuân Khánh, thực tế, liên kết với doanh nghiệp không phải là việc mới đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; mà điều khó hơn là chuyển từ “có liên kết” sang “liên kết có giá trị”. Một khoa hay trung tâm mang tên doanh nghiệp chưa nói lên nhiều điều nếu chương trình vẫn như cũ, thiết bị ít được khai thác, chuyên gia doanh nghiệp chỉ tham gia theo từng sự kiện và sinh viên chưa được tiếp cận rõ hơn với công nghệ, quy trình sản xuất thực tế.

Từ kinh nghiệm thực tế, thầy Khánh bày tỏ, không nên đánh giá liên kết bằng số biên bản ghi nhớ hay số doanh nghiệp tham gia, mà bằng mức độ doanh nghiệp đi vào những khâu quyết định chất lượng đào tạo: cùng xác định nhu cầu kỹ năng, tham gia xây dựng và cập nhật chương trình, đưa chuyên gia và công nghệ vào đào tạo, tổ chức thực hành trong môi trường sản xuất, bồi dưỡng giảng viên và phản hồi về năng lực của người học. Khi doanh nghiệp thực sự tham gia vào quá trình hình thành năng lực nghề nghiệp, liên kết mới có chiều sâu.

Vì vậy, với khoa hoặc trung tâm liên kết, điều cần quản lý không chỉ là “hai bên đã cam kết làm gì”, mà quan trọng hơn là “sau một năm hợp tác, đào tạo đã thay đổi điều gì”. Nếu không trả lời được câu hỏi đó thì dù mô hình được tổ chức rất bài bản về hình thức, hiệu quả thực chất vẫn cần phải xem lại.

“Thông tư 72 đã mở thêm không gian để nhà trường và doanh nghiệp có thể hợp tác sâu hơn, kể cả thành lập khoa, trung tâm hoặc đơn vị đào tạo chuyên môn. Tuy nhiên, để mô hình này đi vào thực chất, hành lang pháp lý cho phép liên kết là chưa đủ; các cơ chế về tài chính, tài sản, đầu tư và tổ chức thực hiện cũng phải đồng bộ để các bên có thể đưa nguồn lực thực sự vào hợp tác”, thầy Khánh nói.

Từ thực tiễn quản lý một cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội cho rằng cần quan tâm một số vấn đề.

Trước hết là cơ chế tài chính và tài sản. Với trường công lập, khi doanh nghiệp muốn đầu tư thiết bị, cùng khai thác phòng thí nghiệm, xưởng thực hành hoặc sử dụng chung hạ tầng, câu chuyện không đơn giản chỉ là hai bên thống nhất được với nhau. Cần tiếp tục làm rõ và đồng bộ cách định giá tài sản, quyền khai thác, chi phí vận hành, bảo trì, phân chia nguồn thu và tái đầu tư. Nếu cơ chế chia sẻ nguồn lực còn khó thực hiện thì chủ trương liên kết rất dễ đi trước, còn nguồn lực thực tế lại đi sau.

Không những vậy, chính sách cần tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư dài hạn vào quá trình hình thành kỹ năng, thay vì chủ yếu tham gia ở khâu thực tập và tuyển dụng. Các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tham gia đào tạo, đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho người lao động cần gắn với mức độ đóng góp thực chất về chuyên gia, công nghệ, thiết bị và đầu ra đào tạo. Khi đó, khoa hay trung tâm liên kết không chỉ phục vụ sinh viên của một khóa học mà còn có thể trở thành nơi cập nhật kỹ năng, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp trước sự thay đổi của công nghệ.

Ngoài ra, cần thay đổi cách đánh giá hiệu quả liên kết. Không nên lấy số lượng trung tâm được thành lập hay số thỏa thuận được ký làm thước đo chính, mà phải nhìn vào chất lượng việc làm của người học, mức độ doanh nghiệp tham gia vào đào tạo, năng lực được cập nhật cho giảng viên, hiệu quả sử dụng thiết bị và những kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ được đưa vào thực tế.

Thông tư đã mở được cánh cửa về cơ chế. Việc tiếp theo là làm sao để doanh nghiệp có lý do để đầu tư thật, nhà trường có điều kiện để chia sẻ nguồn lực đúng quy định và người học nhận được giá trị thực từ sự liên kết đó. Đây mới là yếu tố quyết định mô hình có đi được đường dài hay không.

Cần sớm có hành lang pháp lý và hướng dẫn triển khai rõ ràng, đồng bộ

Trong khi đó, theo cô Thu, không nên đánh giá một đơn vị liên kết bằng việc đơn vị đó được thành lập như thế nào, mà phải đánh giá bằng những kết quả mà đơn vị đó tạo ra.

Vì vậy, ngay khi ký kết hợp tác để thành lập mô hình đào tạo, cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần xây dựng bộ tiêu chí và KPI cụ thể đối với từng đối tác. Đơn cử như số lượng chương trình được cập nhật theo nhu cầu doanh nghiệp; tỷ lệ giờ thực hành; số lượng chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy; số sinh viên được thực tập; tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp; mức độ hài lòng của doanh nghiệp tuyển dụng; số sản phẩm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ được triển khai thực tế, ...

Bên cạnh đó, cần có cơ chế đánh giá định kỳ và đánh giá lại đối tác. Nếu một đối tác không thực hiện đúng cam kết, không bảo đảm chất lượng hoặc hợp tác chỉ mang tính hình thức thì phải có cơ chế điều chỉnh, tạm dừng hoặc chấm dứt liên kết.

Tuy nhiên, công tác quản lý không nên theo hướng quá cứng nhắc. Doanh nghiệp hoạt động theo thị trường nên nhu cầu nhân lực và công nghệ có thể thay đổi rất nhanh. Nhà trường cần tạo cơ chế để đối tác có thể điều chỉnh nội dung đào tạo, thiết bị, công nghệ và phương thức tổ chức đào tạo một cách linh hoạt nhưng vẫn nằm trong khung pháp lý và chuẩn chất lượng của nhà trường.

Ngoài ra, cô Thu cũng mong rằng, cần có hành lang pháp lý và hướng dẫn triển khai rõ ràng, đồng bộ. Quy định về nguyên tắc là rất cần thiết, song các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng cần được hướng dẫn cụ thể hơn về mô hình tổ chức, cơ chế tài chính, quản lý tài sản, nhân sự, tuyển sinh, chương trình đào tạo, trách nhiệm của từng bên và cơ chế xử lý khi một bên không thực hiện đúng cam kết.

Còn theo Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Phương Đông, để tránh rơi vào bẫy "hợp tác trên giấy", cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần chuyển dịch từ hợp đồng nguyên tắc chung chung sang mô hình quản trị tích hợp dựa trên chỉ số hiệu quả (KPIs) và chia sẻ giá trị thực tế.

Cụ thể, doanh nghiệp phải cam kết số giờ giảng dạy/hướng dẫn cố định của chuyên gia, kỹ sư trưởng (tối thiểu từ 100–150 giờ/năm) thay vì chỉ đứng tên trên danh sách.

Bên cạnh đó, phải có quy định rõ danh mục, số lượng máy móc/công nghệ doanh nghiệp phải đưa vào trung tâm và lộ trình cập nhật, bảo trì định kỳ; Ấn định cụ thể tỷ lệ sinh viên được tiếp nhận thực tập có hưởng lương.

Đồng thời, cần có cơ chế điều hành chung linh hoạt với mô hình đồng quản lý (50-50), thành lập Ban điều phối khoa/trung tâm gồm đại diện lãnh đạo cả hai bên. Trao quyền cho khoa/trung tâm chủ động điều chỉnh 20–30% nội dung học liệu theo công nghệ mới của doanh nghiệp mà không phải trải qua quy trình duyệt hành chính kéo dài

Tường San