Thông tư số 72/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo (thay thế Thông tư số 05/2022/TT-BLĐTBXH ngày 05/4/2022 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũ) quy định về liên kết tổ chức thực hiện chương trình đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp, có hiệu lực từ ngày 12/10/2026 đã đưa ra một số quy định mới về hoạt động liên kết trong giáo dục nghề nghiệp.
Một trong những điểm mới của Thông tư là cho phép cơ sở giáo dục nghề nghiệp liên kết với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, tổ chức giáo dục, doanh nghiệp trong nước để thành lập khoa, trung tâm hoặc đơn vị đào tạo chuyên môn.
Hoạt động liên kết hướng tới việc huy động, chia sẻ và khai thác hiệu quả nguồn lực về đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị, công nghệ và chuyên môn của các bên, phục vụ đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu, phát triển chương trình, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Giúp doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo nghề
Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Trần Anh Tuấn – Phó Chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, cần nhìn nhận quy định mới như một chính sách mở, tạo thêm điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo nghề.
Theo thầy Tuấn, điểm quan trọng của mô hình này là tạo cơ chế để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp huy động những nguồn lực mà một nhà trường khó có thể tự đầu tư đầy đủ, nhất là công nghệ mới, thiết bị hiện đại, đội ngũ chuyên gia nghề nghiệp và môi trường sản xuất thực tế.
Trong khi đó, sự tham gia của doanh nghiệp không còn chỉ dừng ở việc tiếp nhận người học đến thực tập sau một thời gian đào tạo. Doanh nghiệp có thể tham gia trực tiếp từ quá trình xây dựng, tổ chức đào tạo, qua đó chia sẻ với nhà trường những yêu cầu cụ thể về kỹ năng nghề, công nghệ, quy trình sản xuất và nhu cầu nhân lực.
Điều này tạo điều kiện để cơ sở giáo dục nghề nghiệp điều chỉnh chương trình theo những yêu cầu đang đặt ra từ thực tế sản xuất, kinh doanh. Nhà trường có thể chủ động hơn trong việc cập nhật nội dung đào tạo, trong khi doanh nghiệp có cơ hội tham gia hình thành nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu sử dụng lao động.
Đối với người học, lợi ích thiết thực nhất là quá trình học tập được gắn với công việc thực tế. Người học có điều kiện tiếp cận công nghệ đang được sử dụng tại doanh nghiệp, cập nhật kỹ năng nghề theo yêu cầu của thị trường và tăng cơ hội tìm được việc làm phù hợp sau khi tốt nghiệp.
“Mô hình này nếu được triển khai thực chất sẽ góp phần chuyển từ tư duy "nhà trường đào tạo những gì mình có’ sang ‘đào tạo những gì thị trường lao động cần". Điều này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của Thông tư số 72/2026/TT-BGDĐT khi mở rộng hợp tác về đào tạo, cập nhật kỹ năng, phát triển chương trình, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo”, thầy Tuấn nói.
Đồng tình với quan điểm trên, Thạc sĩ Trần Phương – Hiệu trưởng Trường Trung cấp Việt Giao cũng cho rằng, mô hình liên kết có thể góp phần rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu của doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh công nghệ, thiết bị và quy trình nghề nghiệp thay đổi nhanh.
Theo thầy Phương, giá trị lớn của doanh nghiệp trong mô hình này nằm ở khả năng đưa “công nghệ thật” vào quá trình đào tạo. Những hệ thống thiết bị, quy trình vận hành và môi trường sản xuất, kinh doanh thực tế có thể trở thành không gian thực hành mở rộng cho người học.
Bên cạnh đó, mô hình này cũng giúp tối ưu nguồn lực trong bối cảnh không phải cơ sở giáo dục nghề nghiệp nào cũng có khả năng đầu tư đầy đủ các thiết bị và công nghệ mới nhất. Đơn cử, với những ngành nghề gắn với nhà hàng, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, bếp trung tâm hoặc các hệ thống quản lý và vận hành chuyên nghiệp, cơ sở vật chất của doanh nghiệp có thể hỗ trợ nhà trường tạo ra môi trường thực hành sát hơn với thực tế nghề nghiệp.
“Nhà trường cung cấp nền tảng giáo dục, doanh nghiệp cung cấp môi trường nghề nghiệp thực tế. Đây là mô hình hai bên cùng đầu tư, cùng khai thác và cùng chịu trách nhiệm về chất lượng”, thầy Phương nói.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, sự gắn kết này cuối cùng phải được thể hiện ở kết quả của người học. Nếu quá trình hợp tác giúp người học hình thành năng lực nghề nghiệp tốt hơn, tiếp cận công nghệ mới và tăng cơ hội việc làm thì khi đó liên kết mới thực sự có ý nghĩa.
Cùng bàn về điểm mới trên, Tiến sĩ Đặng Văn Sáng – Hiệu trưởng Trường Trung cấp Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh cho hay, nếu được tổ chức hiệu quả, mô hình liên kết trên sẽ giúp các bên khai thác tốt hơn những nguồn lực đang có, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia, cơ sở vật chất, thiết bị, công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn của doanh nghiệp.
Đối với nhà trường, liên kết với doanh nghiệp giúp nâng cao năng lực đào tạo, tăng tính thực tiễn của chương trình và gắn đào tạo chặt chẽ hơn với nhu cầu sử dụng lao động. Thông qua doanh nghiệp, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể tiếp cận nhanh hơn với công nghệ, quy trình sản xuất và yêu cầu nghề nghiệp đang được áp dụng trên thực tế.
Đối với người học, mô hình này mở rộng cơ hội học tập trong môi trường gần với thực tế nghề nghiệp, tiếp cận thiết bị, công nghệ mới, tăng thời gian thực hành, thực tập và nâng cao cơ hội việc làm sau tốt nghiệp.
Theo thầy Sáng, đây cũng là hướng phù hợp với yêu cầu bảo đảm chuẩn đầu ra và chất lượng đào tạo, bởi người học không chỉ được cung cấp kiến thức, kỹ năng trong môi trường nhà trường mà còn có cơ hội kiểm chứng, vận dụng những năng lực đó trong điều kiện lao động thực tế.
Cần phân chia trách nhiệm rõ ràng
Tuy nhiên, cùng với những cơ hội mà quy định mới mở ra, các chuyên gia cho rằng, việc phân định trách nhiệm giữa các bên là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm. Khi nhà trường và các đối tác/doanh nghiệp cùng tham gia tổ chức một hoạt động đào tạo, nếu không xác định rõ trách nhiệm ngay từ đầu, những vấn đề liên quan đến tài chính, tài sản, nhân sự, chất lượng đào tạo hoặc quyền sở hữu trí tuệ có thể phát sinh trong quá trình thực hiện.
Theo Tiến sĩ Đặng Văn Sáng, nguyên tắc quan trọng là phải “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ quyền lợi và rõ cơ chế kiểm soát” ngay từ thời điểm các bên ký thỏa thuận hoặc hợp đồng liên kết.
Theo quy định của Thông tư, đối với việc thành lập khoa, trung tâm hoặc đơn vị đào tạo chuyên môn, thỏa thuận hoặc hợp đồng phải xác định cụ thể trách nhiệm của các bên về tổ chức hoạt động, quản lý tài chính, tài sản, nhân sự, cơ sở vật chất; cơ chế phối hợp quản lý và bảo đảm chất lượng; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng bên.
Từ yêu cầu này, thầy Sáng bày tỏ, các nội dung trong hợp đồng cần được cụ thể hóa thay vì chỉ dừng ở những cam kết mang tính nguyên tắc.
Về tài chính, các bên cần xác định rõ nguồn thu, các khoản chi, tỷ lệ hoặc phương thức phân bổ, trách nhiệm thanh toán, cũng như cơ chế kiểm tra và quyết toán. Việc xác định từ đầu sẽ hạn chế những tranh chấp liên quan đến nguồn thu, chi phí vận hành hoặc phần đóng góp của mỗi bên.
Về tài sản, cần lập danh mục tài sản do từng bên đầu tư hoặc đóng góp, đồng thời xác định rõ quyền quản lý, sử dụng, bảo trì, khấu hao và phương án xử lý khi hoạt động liên kết chấm dứt. Trường hợp có tài sản công, việc quản lý và sử dụng phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.
Về nhân sự, hợp đồng cũng cần làm rõ bên nào chịu trách nhiệm bố trí đội ngũ, yêu cầu đối với nhà giáo, chuyên gia doanh nghiệp, người quản lý và cơ chế phối hợp trong quá trình tổ chức đào tạo.
Về chất lượng, các bên cần xác định rõ yêu cầu đối với chương trình, đội ngũ, cơ sở vật chất, nội dung đào tạo, kiểm tra, đánh giá và trách nhiệm khắc phục nếu chất lượng không đáp ứng yêu cầu.
Theo thầy Tuấn, mỗi liên kết cần có một hợp đồng hoặc thỏa thuận cụ thể, trong đó xác định bên nào đóng góp tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị và nhân lực; tài sản thuộc nhà trường, tài sản thuộc doanh nghiệp và tài sản hình thành trong quá trình liên kết; người chịu trách nhiệm quản lý, bảo trì và sử dụng tài sản; người chịu trách nhiệm về chương trình, nhà giáo, kiểm tra, đánh giá và chất lượng đào tạo; cơ chế phân chia nguồn thu, chi phí và phương án xử lý khi hợp tác chấm dứt.
Đặc biệt, quyền lợi của người học phải được đặt ở vị trí trung tâm. Theo thầy Tuấn, nếu hoạt động liên kết chấm dứt trước thời hạn thì không thể để người học trở thành “bên chịu rủi ro”. Vì vậy, phương án bảo đảm việc học tập, quyền lợi và nghĩa vụ của người học cần được xác định ngay trong hợp đồng, thay vì chờ đến khi phát sinh sự cố mới tìm cách xử lý.
Trong khi đó, theo Thạc sĩ Trần Phương, việc phân chia trách nhiệm có thể quản lý theo nguyên tắc: “Nhà trường chịu trách nhiệm về chuẩn đào tạo, doanh nghiệp cùng chịu trách nhiệm về tính thực tiễn của nghề”. Theo cách này, người học vừa được bảo đảm nền tảng giáo dục nghề nghiệp, vừa được tiếp cận môi trường lao động thực tế.
Tuy nhiên, thầy Phương lưu ý, dù mô hình tổ chức theo cách nào, trách nhiệm của cơ sở giáo dục nghề nghiệp đối với việc tổ chức đào tạo, quản lý người học và bảo đảm chất lượng đào tạo vẫn cần được xác định rõ. Việc có doanh nghiệp tham gia không đồng nghĩa với việc nhà trường có thể chuyển giao trách nhiệm quản lý chất lượng cho đối tác.
Bên cạnh chế độ báo cáo, hoạt động liên kết cần có cơ chế kiểm tra định kỳ, đánh giá kết quả thực tế và yêu cầu khắc phục khi một bên không thực hiện đúng cam kết. Nếu cần thiết, hợp đồng phải có cơ chế tạm dừng hoặc chấm dứt liên kết để bảo vệ chất lượng đào tạo và quyền lợi của người học.
Phải thỏa thuận quyền sở hữu trí tuệ từ đầu
Một vấn đề khác được các chuyên gia lưu ý là cơ chế phân chia bản quyền, sáng chế và các sản phẩm khoa học, công nghệ được hình thành trong quá trình liên kết với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, tổ chức giáo dục, doanh nghiệp trong nước để thành lập khoa, trung tâm hoặc đơn vị đào tạo chuyên môn.
Theo Tiến sĩ Đặng Văn Sáng, đây là nội dung cần được thỏa thuận trước khi triển khai nghiên cứu, thay vì chờ đến khi sản phẩm hoàn thành mới xác định quyền sở hữu.
Hợp đồng giữa các bên nên xây dựng quy định về sở hữu và khai thác kết quả nghiên cứu, trong đó làm rõ chủ sở hữu đối với sản phẩm, sáng chế được tạo ra; mức độ đóng góp của từng bên về kinh phí, nhân lực, thiết bị, dữ liệu và công nghệ; quyền đứng tên tác giả, quyền sở hữu; quyền đăng ký bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, bản quyền; quyền khai thác thương mại và tỷ lệ phân chia doanh thu; quyền sử dụng sản phẩm cho mục đích đào tạo, nghiên cứu; cơ chế chuyển giao hoặc thương mại hóa sản phẩm và phương án giải quyết tranh chấp.
Nguyên tắc đặt ra là quyền lợi cần được phân chia tương xứng với mức độ đóng góp của từng bên, đồng thời bảo đảm quyền nhân thân của tác giả và quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia.
Theo thầy Sáng, việc thành lập khoa, trung tâm hoặc đơn vị đào tạo chuyên môn không nên được xem là mục tiêu cuối cùng của hoạt động liên kết. Điều cần quan tâm là mô hình đó có thực sự tạo ra giá trị cho đào tạo và khai thác hiệu quả nguồn lực của các bên hay không.
Thông tư quy định hoạt động liên kết nhằm huy động, chia sẻ nguồn lực để thực hiện đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, phát triển chương trình, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo. Vì vậy, kết quả của hoạt động phải được thể hiện bằng những sản phẩm và hiệu quả cụ thể.
Theo thầy Sáng, nhà trường cần xây dựng tiêu chí lựa chọn đối tác ngay từ đầu, tập trung vào năng lực chuyên môn, tài chính, cơ sở vật chất, công nghệ và uy tín. Khi ký hợp đồng, cần xác định mục tiêu, sản phẩm đầu ra và các chỉ số đánh giá cụ thể, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tham gia bằng nguồn lực đã cam kết.
Các bên cũng cần định kỳ đánh giá chất lượng hoạt động của khoa, trung tâm và mức độ đóng góp của từng bên. Nếu đối tác không thực hiện đúng cam kết, cần có cơ chế điều chỉnh, tạm dừng hoặc chấm dứt liên kết.
“Điểm quan trọng nhất của Thông tư 72/2026/TT-BGDĐT là tạo hành lang pháp lý để huy động nguồn lực xã hội vào giáo dục nghề nghiệp. Tuy nhiên, hiệu quả của mô hình sẽ phụ thuộc vào việc nhà trường và đối tác có xây dựng được cơ chế hợp tác minh bạch, có ràng buộc, có kiểm soát, cùng có lợi và lấy người học làm trung tâm hay không”, thầy Sáng nói.
Thầy Tuấn cũng cho rằng, cần phân biệt rõ các trường hợp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.
Đối với công nghệ, sáng chế, phần mềm hoặc dữ liệu đã có trước khi hợp tác, quyền sở hữu thuộc về bên đã tạo lập, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Nếu sản phẩm được tạo ra hoàn toàn bằng nguồn lực của một bên thì cần xác định quyền sở hữu tương ứng với đóng góp của bên đó.
Trong trường hợp sản phẩm được tạo ra từ nguồn lực chung của nhà trường, doanh nghiệp và đội ngũ nghiên cứu, các bên cần thỏa thuận trước về tỷ lệ quyền sở hữu, quyền khai thác thương mại, doanh thu, quyền công bố và trách nhiệm đăng ký bảo hộ.
Người học ngành xã hội cần nhưng khó tuyển sinh sẽ được Nhà nước hỗ trợ học phí: Trường nghề nói gì?
Theo thầy Tuấn, mỗi dự án nên có một thỏa thuận về sở hữu trí tuệ gắn với hợp đồng hợp tác. Việc này giúp các bên thống nhất ngay từ đầu cách thức khai thác kết quả nghiên cứu và hạn chế tranh chấp khi sản phẩm bắt đầu có giá trị thương mại.
Từ góc độ thực tiễn, thầy Tuấn đề xuất, cơ quan quản lý cần có hướng dẫn cụ thể hơn về mô hình tổ chức, cơ chế tài chính, tài sản và quản trị đối với các khoa, trung tâm, đơn vị đào tạo được hình thành từ liên kết.
Bên cạnh đó, mỗi cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần xây dựng quy chế nội bộ về hợp tác, liên kết, trong đó quy định rõ thẩm quyền phê duyệt, lựa chọn đối tác, kiểm soát chất lượng, tài chính và xử lý rủi ro.
Hợp đồng liên kết cần lấy người học và chất lượng đào tạo làm trung tâm, không đặt mục tiêu doanh thu lên trên mục tiêu đào tạo. Hiệu quả hợp tác cũng cần được đánh giá bằng những kết quả có thể đo lường như chất lượng đào tạo, tỷ lệ việc làm, mức thu nhập, mức độ hài lòng của doanh nghiệp, số lượng sản phẩm công nghệ và sáng kiến được chuyển giao.
Theo thầy Tuấn, nên ưu tiên những mô hình trong đó “Nhà trường – Doanh nghiệp – Người học” cùng tham gia. Doanh nghiệp đặt hàng về kỹ năng, nhà trường tổ chức đào tạo và người học được tiếp cận môi trường nghề nghiệp thực tế.
Theo cách này, mở rộng liên kết không chỉ là tăng thêm số lượng đối tác mà phải đi cùng trách nhiệm giải trình và kiểm soát chất lượng. Liên kết đào tạo nghề cần được nhìn nhận như một phương thức phát triển nhân lực gắn trực tiếp với nhu cầu của thị trường lao động.
Bởi vậy, theo thầy Tuấn, hiệu quả của hoạt động liên kết không nên được đo bằng số lượng thỏa thuận được ký kết, mà phải được thể hiện qua chất lượng người học, năng lực nghề nghiệp và việc làm mà mô hình hợp tác tạo ra.
Còn theo thầy Phương, để quy định mới thực sự đi vào cuộc sống, điều quan trọng là chuyển từ tư duy “ký kết hợp tác” sang “quản trị kết quả hợp tác”.
Trên thực tế, một nhà trường có nhiều biên bản ghi nhớ với doanh nghiệp chưa chắc đồng nghĩa với việc có một hệ thống liên kết hiệu quả. Một trung tâm hay khoa liên kết chỉ thực sự có ý nghĩa khi doanh nghiệp tham gia bằng nguồn lực thật, hoạt động thật và tạo ra kết quả thật cho người học.
Do đó, bên cạnh việc mở rộng không gian hợp tác, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần chú trọng năng lực quản trị, lựa chọn đối tác và cơ chế đánh giá sau liên kết. Doanh nghiệp cũng cần xác định rõ trách nhiệm của mình đối với quá trình đào tạo, thay vì chỉ tham gia ở khâu tiếp nhận thực tập hoặc tuyển dụng.
Nếu những yêu cầu này được thực hiện đồng bộ, quy định mới về liên kết có thể tạo thêm một kênh huy động nguồn lực xã hội cho giáo dục nghề nghiệp, đồng thời giúp nhà trường cập nhật công nghệ, doanh nghiệp có thêm nguồn nhân lực phù hợp và người học được đào tạo sát hơn với yêu cầu của thị trường lao động.
Khi đó, giá trị của một mô hình liên kết không nằm ở tên gọi của khoa, trung tâm hay số lượng hợp đồng được ký, mà nằm ở việc nguồn lực của các bên được chuyển hóa thành chất lượng đào tạo và năng lực nghề nghiệp thực tế của người học.