“Tác động thực tiễn” cần trở thành thước đo giá trị đối với nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn

19/09/2026 06:20
ĐÀO HIỀN

GDVN - Đối với lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, giá trị của một công trình không chỉ nằm ở số lượng công bố mà còn ở khả năng được tiếp nhận, ứng dụng và tạo ra những thay đổi trong chính sách, văn hóa và đời sống xã hội.

Trong bối cảnh nghiên cứu khoa học được đánh giá bằng nhiều tiêu chí, giá trị của một công trình đối với xã hội và đất nước cần được nhìn nhận bên cạnh các chỉ số định lượng. Với khoa học xã hội và nhân văn, đóng góp của lĩnh vực này không chỉ nằm ở công bố quốc tế hay chỉ số trích dẫn, mà còn thể hiện qua tư vấn, phản biện chính sách, bảo tồn văn hóa và sáng tạo nghệ thuật.

Tại buổi làm việc với Đại học Huế, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhấn mạnh cần nhìn nhận các công trình khoa học xã hội và nhân văn từ những giá trị mà chúng tạo ra cho đất nước và xã hội. Thực tế cho thấy, từ tư vấn, phản biện chính sách đến bảo tồn văn hóa và sáng tạo nghệ thuật, những đóng góp của các lĩnh vực này có thể tạo ra giá trị lớn, dù không nhất thiết được phản ánh qua số lượng công bố quốc tế.

Khi giá trị công trình khoa học không nằm ở số lượng bài báo

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Tạ Thị Thảo - Phó Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Khoa học (Đại học Thái Nguyên) bày tỏ sự đồng tình với quan điểm cần nhìn nhận các công trình khoa học xã hội, nhân văn và nghệ thuật từ những giá trị tạo ra cho đất nước và xã hội.

Theo cô Thảo, từ góc độ nghiên cứu chính sách công và công tác xã hội, một trong những giá trị thiết thực của khoa học xã hội là giúp nhận diện người dân đang gặp khó khăn ở đâu, nguyên nhân là gì, chính sách đang vướng ở khâu nào và cần điều chỉnh ra sao để hỗ trợ đúng đối tượng.

Trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, giá trị của công trình có thể được thể hiện qua việc ghi chép, lưu giữ tri thức của nghệ nhân, nhận diện nguy cơ mai một các giá trị văn hóa và hỗ trợ cộng đồng xây dựng phương thức truyền dạy phù hợp.

“Những giá trị như vậy cần được xem xét bên cạnh các kết quả thể hiện qua công bố khoa học”, cô Thảo cho biết.

Từ thực tế nghiên cứu, cô Thảo cho rằng việc đánh giá thành tích của giảng viên trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hiện chưa phản ánh đầy đủ những đóng góp như tư vấn chính sách, phản biện xã hội hay bảo tồn văn hóa. Số lượng bài báo là kết quả tương đối dễ thống kê, trong khi việc một kiến nghị nghiên cứu được cơ quan quản lý tiếp thu vào dự thảo chính sách, hay một bộ tư liệu được cộng đồng sử dụng để truyền dạy di sản, lại cần những minh chứng và phương thức đánh giá khác.

Cô Thảo dẫn chứng, trong một đề tài nghiên cứu về giáo dục đối với trẻ em, học sinh, sinh viên các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn và có những khó khăn đặc thù mà cô tham gia, nhóm nghiên cứu đã đề xuất cơ chế hỗ trợ theo lộ trình khi người học chuyển cấp, đồng thời có chính sách hỗ trợ trong giai đoạn chuyển tiếp.

Tuy nhiên, theo cô Thảo, việc đưa ra kiến nghị mới chỉ là bước đầu. Để đánh giá đầy đủ giá trị và tác động của nghiên cứu, cần tiếp tục theo dõi xem các kiến nghị có được cơ quan quản lý tiếp thu, cụ thể hóa và triển khai trong thực tế hay không. Đây cũng là điểm còn thiếu trong cách đánh giá thành tích nghiên cứu hiện nay.

Tiến sĩ Tạ Thị Thảo - Phó Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Khoa học (Đại học Thái Nguyên). Ảnh: NVCC
Tiến sĩ Tạ Thị Thảo - Phó Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Khoa học (Đại học Thái Nguyên). Ảnh: NVCC

Lấy dẫn chứng về một công trình khoa học xã hội và nhân văn không có nhiều công bố quốc tế nhưng có thể tạo ra giá trị trong thực tiễn, Tiến sĩ Tạ Thị Thảo cho rằng có thể nhìn vào quá trình bảo tồn Hát Xoan Phú Thọ. Năm 2017, UNESCO đã đưa Hát Xoan từ Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp sang Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Theo cô Thảo, đây là kết quả của sự tham gia và nỗ lực chung của nghệ nhân, cộng đồng và các cơ quan liên quan, vì vậy không thể quy kết cho một công trình nghiên cứu riêng lẻ.

Tuy nhiên, nếu đánh giá giá trị của một nghiên cứu có tham gia vào quá trình bảo tồn di sản, có thể xem xét cụ thể công trình đã ghi chép, tư liệu hóa được những tri thức gì từ nghệ nhân. Các tư liệu, kết quả nghiên cứu hoặc kiến nghị được sử dụng như thế nào trong hoạt động truyền dạy, và việc thực hành, trao truyền di sản trong cộng đồng có được duy trì hay không.

Theo cô Thảo, với nghiên cứu chính sách cũng cần có cách tiếp cận tương tự. Không nên chỉ dừng ở việc một nghiên cứu đưa ra bao nhiêu kiến nghị, mà cần theo dõi cả quá trình từ khi kiến nghị được gửi đến cơ quan có thẩm quyền, được xem xét, tiếp thu, áp dụng trong thực tế cho đến khi có thể đánh giá kết quả và tác động của chính sách. Đây mới là cơ sở để nhận diện đầy đủ giá trị mà một công trình khoa học xã hội và nhân văn tạo ra.

Cùng bàn về vấn đề này, Thạc sĩ Huỳnh Phương Duyên - Trưởng bộ môn Khoa học xã hội và Nhân văn, Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn (Trường Đại học Nha Trang) cho rằng, công bố quốc tế vẫn là một chỉ báo quan trọng về chất lượng nghiên cứu và mức độ hội nhập học thuật, nhưng không nên là tiêu chí duy nhất để đánh giá giá trị của các công trình khoa học xã hội và nhân văn.

Theo cô, nghiên cứu trong lĩnh vực này không chỉ tạo ra tri thức mới mà còn góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, bảo tồn di sản văn hóa và lý giải những biến đổi đang diễn ra trong đời sống xã hội. Những giá trị đó thường cần một khoảng thời gian nhất định mới có thể phát huy và không phải lúc nào cũng có thể chuyển hóa thành các chỉ số định lượng.

Từ góc độ đánh giá thành tích, cô Duyên nhận định các cơ chế hiện nay đã tạo ra những tác động tích cực trong việc thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, nhưng vẫn chưa phản ánh đầy đủ các đóng góp đặc thù của khoa học xã hội và nhân văn.

Một hạn chế đáng chú ý là việc ưu tiên những sản phẩm dễ thống kê như số lượng bài báo, lượt trích dẫn hay thứ hạng tạp chí, trong khi chưa có sự ghi nhận tương xứng đối với các sản phẩm có giá trị thực tiễn như báo cáo tư vấn chính sách, hồ sơ di sản, cơ sở dữ liệu, kết quả điều tra xã hội học, hoạt động phổ biến tri thức và các công trình phục vụ cộng đồng.

Bên cạnh đó, cô Duyên cho rằng mỗi ngành, lĩnh vực có đối tượng, phương pháp nghiên cứu và thời gian tạo ra tác động khác nhau. Vì vậy, việc áp dụng một bộ tiêu chí đánh giá đồng nhất cho tất cả lĩnh vực có thể chưa phản ánh đúng đặc thù của từng ngành.

Nếu những đóng góp đặc thù không được nhận diện và ghi nhận phù hợp, điều này có thể ảnh hưởng đến động lực nghiên cứu của giảng viên, nhất là ở những lĩnh vực mà giá trị của công trình thường được thể hiện rõ hơn trong thực tiễn và cần thời gian dài để phát huy.

Theo Thạc sĩ Duyên, những tác động thực tiễn của công trình khoa học cần được ghi nhận trên cơ sở bằng chứng cụ thể, thay vì chỉ dựa vào nhận định chung. Việc đánh giá có thể xem xét công trình có được sử dụng trong văn bản chính sách, chương trình giáo dục, đề án phát triển, hoạt động bảo tồn văn hóa hay không; kết quả nghiên cứu được cơ quan quản lý, nhà trường, tổ chức xã hội hoặc cộng đồng tiếp nhận và vận dụng ở mức độ nào; phạm vi đối tượng thụ hưởng ra sao và có tạo ra những thay đổi có thể nhận diện về nhận thức, hành vi, phương thức quản lý hoặc thực hành văn hóa hay không.

Cô Duyên cho rằng việc đánh giá nên dựa trên ít nhất ba phương diện gồm chất lượng khoa học, mức độ được tiếp nhận và sử dụng trong thực tế, cùng mức độ đóng góp của chính công trình vào kết quả đạt được.

Với những nghiên cứu có tác động dài hạn hoặc khó lượng hóa, có thể kết hợp phương pháp định tính và định lượng, đồng thời xem xét cả quá trình hình thành ảnh hưởng thay vì chỉ đánh giá kết quả cuối cùng.

Đồng thời, không nên máy móc quy đổi tác động thực tiễn thành một công thức điểm số, bởi ảnh hưởng của nghiên cứu xã hội thường cần thời gian để hình thành và không phải lúc nào cũng có thể lượng hóa ngay. Do đó, các tiêu chí đánh giá cần được công bố trước, có hướng dẫn cụ thể và được xem xét bởi hội đồng chuyên môn, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.

phien-toa-gia-dinh.jpg
Đối với khoa học xã hội và nhân văn, cần ghi nhận tương xứng các sản phẩm có giá trị thực tiễn như báo cáo tư vấn chính sách, kết quả điều tra xã hội học, hoạt động phổ biến tri thức...Ảnh: Trường Đại học Nha Trang.

Ghi nhận đúng giá trị thực tiễn, tạo động lực để giảng viên theo đuổi những vấn đề lớn

Không thể phủ nhận giá trị của các công trình khoa học xã hội và nhân văn không phải lúc nào cũng được thể hiện đầy đủ qua số lượng công bố quốc tế. Vì vậy, đề xuất đưa “tác động thực tiễn” vào tiêu chí đánh giá công trình khoa học của Bộ trưởng Vũ Hải Quân nhận được sự đồng tình từ nhiều nhà khoa học, giảng viên.

Đáng chú ý, việc nghiên cứu thí điểm chương trình về khoa học xã hội, nhân văn và nghệ thuật trên phạm vi toàn quốc, cùng với thành lập hội đồng chuyên môn để đánh giá công trình dựa trên tác động và giá trị mang lại cũng được kỳ vọng sẽ tạo thêm cơ sở để ghi nhận đầy đủ hơn những đóng góp đặc thù của các lĩnh vực này.​

Tiến sĩ Tạ Thị Thảo cho rằng, nếu đưa tác động thực tiễn vào tiêu chí đánh giá, cần xây dựng một chuỗi minh chứng rõ ràng, từ sản phẩm nghiên cứu, quá trình sử dụng sản phẩm đến những thay đổi có thể quan sát được sau khi sử dụng.

Chẳng hạn, một báo cáo gửi cơ quan quản lý mới chỉ là sản phẩm nghiên cứu, khi một nội dung trong báo cáo được tiếp thu vào văn bản chính sách, đó mới là bằng chứng về việc kết quả đã được sử dụng. Còn những thay đổi thực tế sau khi chính sách được triển khai mới là cơ sở để đánh giá tác động của nghiên cứu. Cách tiếp cận này sẽ tránh việc coi mọi kiến nghị được đưa ra đều là tác động thực tiễn.

Theo cô Thảo, minh chứng cho tác động của nghiên cứu cũng cần được thu thập từ nhiều nguồn, như báo cáo nghiên cứu, văn bản thể hiện nội dung được tiếp thu, xác nhận của đơn vị áp dụng, dữ liệu trước và sau khi triển khai hoặc phản hồi của cộng đồng thụ hưởng. Hội đồng chuyên môn cần đối chiếu thời điểm, mức độ sử dụng và xác định phần đóng góp của từng công trình, đồng thời tính đến những yếu tố khác cùng tạo nên kết quả.

Bởi, một chính sách được triển khai hiệu quả hay một di sản được bảo tồn, phát huy thường là thành quả của nhiều cá nhân và tổ chức. Vì vậy, đánh giá tác động cần nhận diện đúng vai trò của công trình nghiên cứu trong thành quả chung, thay vì quy toàn bộ kết quả cho một nghiên cứu.

Cô Thảo cũng kỳ vọng chương trình thí điểm sẽ xây dựng được những tiêu chí phù hợp với từng loại sản phẩm, từ nghiên cứu cơ bản, tư vấn chính sách, phản biện xã hội đến nghiên cứu bảo tồn di sản. Hội đồng đánh giá cần có các chuyên gia am hiểu lĩnh vực và bối cảnh địa phương, đủ khả năng xem xét cả chất lượng phương pháp nghiên cứu lẫn bằng chứng về việc kết quả được sử dụng trong thực tế.

Nếu kết quả đánh giá tác động được sử dụng trong xét giao nhiệm vụ, khen thưởng và phát triển nghề nghiệp, giảng viên sẽ có thêm động lực dành thời gian cho khảo sát thực địa, làm việc với cơ quan quản lý và tiếp tục theo dõi vấn đề sau khi đề tài kết thúc.

Bởi, nghiên cứu gắn với thực tiễn không dừng lại ở việc xác định một vấn đề rồi hoàn thành báo cáo. Với những nghiên cứu về giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số chẳng hạn, nhà khoa học cần lắng nghe học sinh, gia đình và nhà trường, đồng thời theo dõi xem giải pháp đề xuất có phù hợp trong quá trình triển khai, đặc biệt ở những thời điểm như chuyển cấp hay không.

“Việc ghi nhận đầy đủ cả quá trình từ nghiên cứu, đưa ra kiến nghị đến theo dõi việc tiếp nhận và triển khai kết quả sẽ khuyến khích giảng viên theo đuổi các vấn đề thực tiễn đủ lâu để những kiến nghị nghiên cứu có cơ hội được thử nghiệm, điều chỉnh và tạo ra giá trị cho người dân. Đây cũng là một cách tạo động lực nghề nghiệp, bên cạnh việc ghi nhận các kết quả thể hiện qua công bố khoa học”, cô Thảo nhấn mạnh.

thuc-tap.jpg
Việc đưa “tác động thực tiễn” vào tiêu chí đánh giá công trình khoa học xã hội và nhân văn là cần thiết.
Ảnh minh họa: Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Khoa học - ĐH Thái Nguyên.

Trong khi đó, Thạc sĩ Huỳnh Phương Duyên kỳ vọng chương trình thí điểm và hội đồng chuyên môn sẽ góp phần tạo ra cách nhìn đầy đủ, cân bằng hơn về giá trị của các công trình khoa học xã hội và nhân văn. Theo cô, nếu được triển khai phù hợp, cơ chế này có thể tạo ra một số thay đổi đáng chú ý.

Thứ nhất, giảng viên và nhà khoa học sẽ có thêm động lực theo đuổi những vấn đề lớn, có ý nghĩa đối với đất nước, thay vì tập trung chủ yếu vào những đề tài dễ công bố hoặc phù hợp với các chỉ số quốc tế. Những nghiên cứu về bất bình đẳng xã hội, già hóa dân số, di cư, sinh kế ven biển hay bình đẳng giới có thể cần nhiều thời gian, nhưng lại cung cấp những luận cứ quan trọng cho hoạch định chính sách.

Thứ hai, các công trình gắn với địa phương, văn hóa và cộng đồng có thể được ghi nhận sát hơn với giá trị thực tế. Chẳng hạn, một nghiên cứu về văn hóa biển đảo hoặc sinh kế của cộng đồng ngư dân Khánh Hòa có thể không có nhiều công bố quốc tế, nhưng nếu kết quả được sử dụng để xây dựng chương trình giáo dục địa phương hoặc hoạch định chính sách phát triển cộng đồng thì cần được đánh giá trên chính những đóng góp đó.

Thứ ba, cơ chế mới có thể tạo điều kiện ghi nhận các nghiên cứu dài hạn, liên ngành và nghiên cứu theo nhóm. Theo cô Duyên, nhiều tác động xã hội không thể hình thành từ một bài báo riêng lẻ hoặc trong thời gian ngắn. Một nghiên cứu kết hợp xã hội học, giáo dục học và quản lý công để theo dõi sự thay đổi của một vấn đề xã hội có thể cần nhiều năm mới cho thấy kết quả, nhưng lại cung cấp những bằng chứng có giá trị cho chính sách và cộng đồng.

Nếu chỉ chú trọng số lượng bài báo, hoạt động nghiên cứu dễ bị kéo theo mục tiêu sản lượng, trong khi những đề tài cần đầu tư dài hạn hoặc có độ phức tạp cao lại khó được theo đuổi.

Tuy nhiên, để cơ chế đánh giá mới thực sự phát huy hiệu quả, cô Duyên cho rằng cần xây dựng hệ thống tiêu chí minh bạch, đồng thời phù hợp với đặc thù của từng ngành, lĩnh vực. Hội đồng đánh giá nên có sự tham gia của các chuyên gia khoa học, nhà quản lý, đơn vị sử dụng kết quả nghiên cứu và, khi cần thiết, đại diện cộng đồng thụ hưởng.

Bên cạnh cơ chế đánh giá và ghi nhận, cần có chính sách hỗ trợ để các công trình có tiềm năng tạo tác động được tiếp tục phát triển và ứng dụng. Nhà khoa học cần có kinh phí, dữ liệu, thời gian nghiên cứu, cơ hội trao đổi với cơ quan quản lý cũng như các kênh chuyển giao kết quả.

Khi những điều kiện này được bảo đảm, việc đánh giá tác động thực tiễn mới không chỉ dừng ở ghi nhận thành tích mà có thể trở thành động lực để các nhà khoa học theo đuổi những vấn đề có ý nghĩa lâu dài đối với xã hội.

“Đây cũng là cơ hội để nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong phát triển đất nước. Giá trị của nghiên cứu không chỉ thể hiện qua số lượng công bố, mà còn ở khả năng giúp xã hội hiểu rõ hơn những vấn đề đang đặt ra, cung cấp cơ sở cho các quyết định và góp phần gìn giữ những giá trị có ý nghĩa cho các thế hệ sau”, cô Duyên nêu quan điểm.​

ĐÀO HIỀN