Công bố quốc tế sẽ nâng tầm khi nghiên cứu sinh được miễn phản biện độc lập

23/07/2026 06:22
Thúy Hiền
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Theo PGS.TS Phạm Quốc Việt, việc quy định rõ các trường hợp được miễn phản biện độc lập sẽ tạo thêm động lực để nghiên cứu sinh và giảng viên hướng dẫn đầu tư cho các công bố khoa học quốc tế.

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT về Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học, áp dụng đối với các khóa thông báo tuyển sinh trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ từ ngày 1/1/2027 có nhiều điểm mới đáng chú ý.

Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT quy định Đào tạo trình độ tiến sĩ chỉ tổ chức thực hiện theo hình thức đào tạo chính quy. Nghiên cứu sinh chịu sự quản lý, giám sát và đánh giá của cơ sở đào tạo trong suốt quá trình đào tạo, tham gia hoạt động chuyên môn, giảng dạy, nghiên cứu khoa học theo các cách thức gồm:

Học tập, nghiên cứu toàn thời gian tại cơ sở đào tạo theo kế hoạch học tập toàn khóa do cơ sở đào tạo ban hành, tham gia các hoạt động chuyên môn của cơ sở đào tạo bao gồm trợ giảng, hướng dẫn thực hành, thực tập, phòng thí nghiệm; không làm việc toàn thời gian tại cơ quan, tổ chức khác trong thời gian học tập.

Học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo bảo đảm đủ thời gian theo kế hoạch học tập toàn khóa do cơ sở đào tạo ban hành trong đó đăng ký đủ 30 tín chỉ trong một năm học.

Các quy định liên quan đến đào tạo trình độ tiến sĩ được bổ sung và siết chặt được nhiều lãnh đạo cơ sở giáo dục đại học kỳ vọng sẽ tạo điều kiện để nghiên cứu sinh tập trung cho hoạt động nghiên cứu, tăng cường sự hiện diện trong môi trường học thuật. Tuy nhiên, việc triển khai quy định mới cũng đặt ra những yêu cầu đối với các cơ sở giáo dục đại học trong công tác tuyển sinh, quản lý và tổ chức đào tạo.

Đào tạo tiến sĩ toàn thời gian cần đi kèm cơ chế hỗ trợ phù hợp

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Thái Doãn Thanh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, một trong những cách thức quy định nghiên cứu sinh phải học tập, nghiên cứu toàn thời gian tại cơ sở đào tạo và không được làm việc toàn thời gian tại cơ quan, tổ chức khác là một bước đi cần thiết nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trình độ tiến sĩ và chất lượng nghiên cứu khoa học.

Trong nhiều năm qua, thực tế vẫn tồn tại tình trạng một số nghiên cứu sinh vừa làm việc toàn thời gian, vừa thực hiện luận án. Điều này khiến thời gian, nguồn lực và sự tập trung dành cho hoạt động nghiên cứu bị phân tán, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và kết quả nghiên cứu.

Khi quy định mới được triển khai, nghiên cứu sinh sẽ có điều kiện tập trung toàn bộ thời gian cho việc học tập, nghiên cứu, thường xuyên tham gia các seminar (hội thảo), sinh hoạt học thuật, làm việc tại phòng thí nghiệm và các nhóm nghiên cứu của cơ sở đào tạo. Quá trình “hòa mình” vào môi trường học thuật sẽ giúp hình thành tư duy nghiên cứu chuyên sâu, nâng cao năng lực nghiên cứu độc lập và khả năng hợp tác khoa học.

Đặc biệt, việc dành toàn thời gian cho nghiên cứu sẽ tạo điều kiện để các đề tài được đầu tư bài bản hơn, nâng cao tính mới, tính thực tiễn và giá trị khoa học của kết quả nghiên cứu. Đây cũng là cơ sở để gia tăng các công bố khoa học có chất lượng, hướng tới những công trình có khả năng giải quyết các vấn đề lớn của thực tiễn, thay vì chỉ đáp ứng yêu cầu tối thiểu để hoàn thành chương trình đào tạo.

Quy định này cũng góp phần bảo đảm tiến độ thực hiện luận án, hạn chế tình trạng kéo dài thời gian đào tạo, đồng thời giúp các đề tài nghiên cứu được triển khai kịp thời, bám sát các vấn đề khoa học và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

ky-ket-194-h1.jpg
Tiến sĩ Thái Doãn Thanh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.

Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Thái Doãn Thanh, phần lớn nghiên cứu sinh ở các khối ngành kỹ thuật, công nghệ và kinh tế hiện nay là giảng viên trẻ đang công tác tại các trường đại học. Do đó, quy định nghiên cứu sinh phải học tập, nghiên cứu toàn thời gian tại cơ sở đào tạo hoặc bảo đảm đăng ký tối thiểu 30 tín chỉ trong một năm học sẽ tạo ra những áp lực nhất định đối với công tác quản lý, bố trí và sử dụng nhân sự của các cơ sở giáo dục đại học, trong đó có Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh.

Để bảo đảm nghiên cứu sinh có thể dành toàn thời gian cho nghiên cứu mà vẫn hạn chế tác động đến hoạt động chuyên môn của đơn vị, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ sở cử đi học và cơ sở đào tạo.

Đối với cơ sở cử giảng viên đi học, cần có cơ chế giảm mạnh hoặc miễn định mức giảng dạy, công tác hành chính trong giai đoạn nghiên cứu cao điểm; đồng thời duy trì các chế độ tiền lương, phụ cấp hoặc học bổng để nghiên cứu sinh yên tâm theo đuổi hoạt động nghiên cứu mà không chịu quá nhiều áp lực về tài chính.

Về phía cơ sở đào tạo tiến sĩ, cần xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo môi trường học thuật chuyên nghiệp để nghiên cứu sinh tham gia như những thành viên chính thức của nhóm nghiên cứu. Nghiên cứu sinh không chỉ học mà còn cần được tham gia thực hiện các đề tài, dự án khoa học, có cơ hội nhận kinh phí hỗ trợ nghiên cứu hoặc trợ cấp từ các dự án.

Song song với đó, các trường cần tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm và hạ tầng nghiên cứu hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi để nghiên cứu sinh toàn tâm toàn ý thực hiện các công trình khoa học có chất lượng và giá trị ứng dụng cao.

Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quốc Việt - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Marketing, so với các quy định trước, Thông tư 53 yêu cầu nghiên cứu sinh học tập, nghiên cứu toàn thời gian tại cơ sở đào tạo (cách thức 1) là một điểm mới đáng chú ý. Đây là mô hình đã được nhiều trường đại học trên thế giới áp dụng từ lâu. Tại Việt Nam, những nghiên cứu sinh được cử đi đào tạo theo Đề án 89 về Nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo giai đoạn 2019-2030 (trước đây có Đề án 911) cũng đều học tập theo hình thức toàn thời gian.

“Việc nghiên cứu sinh thường xuyên có mặt tại cơ sở đào tạo không chỉ giúp tăng cường công tác quản lý mà còn tạo điều kiện để người học tham gia sâu hơn vào môi trường học thuật. Dưới sự theo dõi, hỗ trợ thường xuyên của đơn vị chuyên môn, giảng viên hướng dẫn và nhóm nghiên cứu, những khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện luận án có thể được phát hiện, tháo gỡ kịp thời, qua đó hạn chế tình trạng kéo dài thời gian đào tạo hoặc bỏ dở chương trình.

Đồng thời, khi dành toàn bộ thời gian cho hoạt động học tập và nghiên cứu, nghiên cứu sinh sẽ có nhiều cơ hội tham gia các nhóm nghiên cứu, đề tài khoa học, hoạt động trợ giảng, hướng dẫn thực hành hoặc các seminar học thuật”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quốc Việt cho hay.

521965322-1187571740083354-3498178108694041619-n.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quốc Việt - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Marketing. Ảnh: website nhà trường.

Ngoài ra, thực tế hiện nay cho thấy, nhiều nghiên cứu sinh đồng thời là giảng viên hoặc cán bộ đang công tác tại các cơ sở giáo dục đại học. Nghiên cứu sinh có thể chọn cách thức học toàn thời gian hoặc học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo bảo đảm đủ thời gian theo kế hoạch học tập toàn khóa do cơ sở đào tạo ban hành trong đó đăng ký đủ 30 tín chỉ trong một năm học.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quốc Việt, với những nghiên cứu sinh lựa chọn cách thức học tập, nghiên cứu toàn thời gian tại cơ sở đào tạo, để bảo đảm người học có điều kiện tập trung cho hoạt động nghiên cứu mà vẫn hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn của đơn vị cử đi học, cần có các cơ chế hỗ trợ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên.

Đối với các ngành, lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển đất nước như khoa học cơ bản, công nghệ lõi, công nghệ mũi nhọn hay các lĩnh vực Nhà nước đang có nhu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, cần có cơ chế đầu tư từ ngân sách. Nguồn kinh phí này không chỉ hỗ trợ cơ sở đào tạo mà còn cần dành một phần để hỗ trợ nghiên cứu sinh dưới dạng học bổng hoặc sinh hoạt phí, giúp người học có điều kiện tập trung toàn thời gian cho hoạt động nghiên cứu. Đi kèm với đó phải là cơ chế giám sát, đánh giá và cam kết trách nhiệm rõ ràng của cả cơ sở đào tạo và nghiên cứu sinh trong việc sử dụng kinh phí đúng mục đích, hoàn thành các nhiệm vụ và sản phẩm nghiên cứu theo tiến độ đã cam kết.

Đối với các ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp có nhu cầu lớn về nguồn nhân lực trình độ cao, các cơ sở đào tạo cần đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp thông qua cơ chế đặt hàng đào tạo hoặc đồng tài trợ kinh phí cho nghiên cứu sinh.

Riêng đối với những ngành có khả năng xã hội hóa cao và nhu cầu học tập lớn, việc tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo là cần thiết để các cơ sở đào tạo có đủ nguồn lực đầu tư cho đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và hoạt động nghiên cứu, từ đó bảo đảm chất lượng đào tạo.

Đối với trường hợp nghiên cứu sinh lựa chọn hình thức học tập, nghiên cứu theo kế hoạch học tập của cơ sở đào tạo và đăng ký tối thiểu 30 tín chỉ trong một năm học, cần tăng cường quản lý tiến độ thông qua các mốc học thuật cụ thể như hoàn thành đề cương nghiên cứu, chuyên đề, công bố khoa học, bảo vệ các giai đoạn của luận án... Đồng thời, cơ sở đào tạo cần áp dụng các biện pháp xử lý học vụ đối với những trường hợp không đáp ứng yêu cầu về tiến độ hoặc không hoàn thành các sản phẩm nghiên cứu theo quy định, nhằm bảo đảm chất lượng và tính nghiêm túc của chương trình đào tạo tiến sĩ.

Cơ chế miễn phản biện độc lập khuyến khích hướng tới công bố quốc tế chất lượng cao

Bên cạnh đó, Thông tư số 53/2026/TT-BGDĐT cho phép cơ sở đào tạo quyết định miễn quy trình phản biện độc lập đối với nghiên cứu sinh có thành tích công bố khoa học vượt chuẩn đầu ra, trong đó có yêu cầu số lượng bài báo WoS hoặc Scopus được xếp loại Q1, Q2 nhiều hơn ít nhất 2 bài so với chuẩn của chương trình.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quốc Việt, cơ chế miễn phản biện độc lập đối với một số luận án đáp ứng điều kiện nhất định là thông lệ đã được nhiều trường đại học trên thế giới áp dụng. Đáng chú ý, nhiều cơ sở đào tạo cho phép thực hiện luận án theo mô hình “series paper”, tức tích hợp các bài báo khoa học do nghiên cứu sinh công bố thành một luận án hoàn chỉnh. Với những công trình đã trải qua quy trình phản biện nghiêm ngặt của các tạp chí khoa học uy tín, việc miễn thêm một vòng phản biện độc lập được xem là hợp lý.

“Thực tiễn đào tạo tiến sĩ tại Việt Nam thời gian qua cho thấy quy trình phản biện độc lập vẫn còn một số bất cập. Chẳng hạn, có trường hợp người phản biện chưa thực sự có chuyên môn sâu, sát với lĩnh vực nghiên cứu của luận án hoặc việc phản biện không được thực hiện đúng thời hạn, ảnh hưởng đến tiến độ đào tạo của nghiên cứu sinh và kế hoạch của cơ sở đào tạo.

Theo quy định mới, quy trình phản biện đã được siết chặt hơn khi số lượng phản biện độc lập được nâng từ hai lên ba người, đồng thời quy định rõ hơn về tiêu chuẩn của người phản biện. Bên cạnh yêu cầu có chuyên môn phù hợp với hướng nghiên cứu của luận án, người phản biện còn phải thường xuyên tham gia đào tạo sau đại học và có năng lực nghiên cứu khoa học. Những thay đổi này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đánh giá luận án, bảo đảm tính khách quan và học thuật.

Đáng chú ý, việc quy định rõ ngay từ đầu các trường hợp được miễn phản biện độc lập sẽ tạo thêm động lực để nghiên cứu sinh và giảng viên hướng dẫn đầu tư cho các công bố khoa học quốc tế. Bởi để một bài báo được chấp nhận đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS/Scopus nhóm Q1 hoặc Q2, các tác giả thường phải trải qua quy trình phản biện nghiêm ngặt và kéo dài, có thể mất từ một đến hai năm hoặc lâu hơn.

Do đó, việc ghi nhận giá trị của các công bố này trong quy trình đánh giá luận án không chỉ phù hợp với thông lệ quốc tế mà còn góp phần khuyến khích nghiên cứu sinh hướng tới các sản phẩm khoa học có chất lượng cao”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quốc Việt nhận định.

40426f58-81ff-439a-9bc0-826455b8419a-1429-1743652825.jpg
Việc quy định rõ ngay từ đầu các trường hợp được miễn phản biện độc lập sẽ tạo thêm động lực để nghiên cứu sinh và giảng viên hướng dẫn đầu tư cho các công bố khoa học quốc tế. Ảnh minh họa: website Trường Đại học Tài chính - Marketing.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Thái Doãn Thanh cho rằng đây là một quy định đột phá, mang tính tiệm cận với các tiêu chuẩn học thuật quốc tế. Quy trình phản biện độc lập trong nước đôi khi mất rất nhiều thời gian và gặp những rào cản mang tính thủ tục hành chính.

Việc một nghiên cứu sinh có số lượng bài báo quốc tế thuộc nhóm Q1, Q2 vượt chuẩn của chương trình từ hai bài trở lên đã chứng minh năng lực nghiên cứu thông qua quá trình phản biện nghiêm ngặt của cộng đồng khoa học quốc tế. Vì vậy, việc miễn phản biện độc lập đối với các trường hợp này là phù hợp, góp phần tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí cho cả nghiên cứu sinh và cơ sở đào tạo.

Đồng thời, quy định này sẽ tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động công bố quốc tế chất lượng cao tại Việt Nam. Thay vì tập trung vào các thủ tục hành chính, nghiên cứu sinh sẽ có thêm động lực đầu tư cho các công trình nghiên cứu có chất lượng.

Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Thái Doãn Thanh, để quy định được triển khai khách quan, minh bạch và tránh bị lợi dụng, các cơ sở đào tạo cần xây dựng cơ chế thẩm định chặt chẽ. Cụ thể, mỗi cơ sở đào tạo nên thành lập hội đồng chuyên môn độc lập để rà soát, thẩm định chất lượng các tạp chí mà nghiên cứu sinh công bố, bảo đảm đây là các tạp chí uy tín, không thuộc nhóm tạp chí "săn mồi" (predatory journals) hoặc các nhà xuất bản nằm trong danh sách cảnh báo.

Bên cạnh đó, cần xác minh rõ vai trò đóng góp của nghiên cứu sinh trong từng công trình khoa học, bảo đảm người học thực sự là tác giả chính hoặc tác giả liên hệ, tránh tình trạng tham gia mang tính hình thức chỉ để đáp ứng điều kiện miễn phản biện.

Ngoài ra, toàn bộ hồ sơ năng lực, danh mục công bố khoa học và dự thảo luận án của các nghiên cứu sinh thuộc diện miễn phản biện độc lập cần được công khai trên website của cơ sở đào tạo trong thời gian nhất định trước khi bảo vệ cấp trường, qua đó tạo điều kiện để cộng đồng học thuật và các chuyên gia tham gia giám sát, phản biện.

Thúy Hiền