Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38/2026/TT-BGDĐT ngày 29/04/2026 ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Dự thảo được xây dựng nhằm bảo đảm thống nhất với Nghị định số 361/2026/NĐ-CP ngày 17/9/2026 của Chính phủ, đồng thời làm rõ một số yêu cầu về điều kiện bảo đảm chất lượng của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Tối đa 30 người học trên một nhà giáo quy đổi
Một trong những điểm mới đáng chú ý của dự thảo là cụ thể hóa yêu cầu về đội ngũ nhà giáo gắn với quy mô đào tạo.
Theo đó, dự thảo đề xuất số lượng nhà giáo phải đáp ứng yêu cầu theo quy mô đào tạo, bảo đảm tỷ lệ người học trên nhà giáo quy đổi tối đa 30. Đây là mức tỷ lệ chung về đội ngũ nhà giáo của cơ sở giáo dục nghề nghiệp được đề xuất trên cơ sở rà soát các quy định hiện hành và các yêu cầu liên quan tại Nghị định số 361/2026/NĐ-CP.
Để việc áp dụng thống nhất, dự thảo cũng làm rõ thành phần được tính khi xác định tổng số nhà giáo quy đổi. Bên cạnh nhà giáo cơ hữu còn có nhà giáo đồng cơ hữu, nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu, nhà giáo thỉnh giảng và cán bộ quản lý có tham gia giảng dạy theo quy định. Đối với một số nhóm nhà giáo, việc quy đổi căn cứ vào khối lượng giảng dạy thực tế trong năm báo cáo.
Quy định cụ thể tỷ lệ người học trên nhà giáo quy đổi giúp lượng hóa yêu cầu về đội ngũ tương ứng với quy mô đào tạo, qua đó tạo căn cứ để cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động bố trí đội ngũ và tự đánh giá mức độ đáp ứng chuẩn.
Tối thiểu 12 m² đất trên một người học
Một điểm mới khác của dự thảo là đề xuất mức diện tích đất tối thiểu của cơ sở giáo dục nghề nghiệp tính trên người học. Theo đó, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có diện tích đất sử dụng hợp pháp, đáp ứng quy định của pháp luật có diện tích đất tối thiểu 12,0 m² trên một người học.
Theo hồ sơ xây dựng dự thảo, cách xác định này nhằm xem xét sự phù hợp giữa quỹ đất hiện có với định hướng phát triển quy mô đào tạo của nhà trường. Do đất đai là nguồn lực có tính ổn định, yêu cầu về diện tích không được tính theo biến động số lượng người học thực tế từng năm mà gắn với quy mô đào tạo cao nhất dự kiến trong chiến lược, kế hoạch phát triển.
Cùng với yêu cầu về diện tích đất, dự thảo đề xuất phòng học lý thuyết, phòng học thực hành, thực tập, bảo đảm tổng diện tích sàn sử dụng phục vụ đào tạo tối thiểu 3,5 m² trên một người học quy đổi. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có phòng học lý thuyết, phòng học thực hành, thực tập đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo, quy mô và cơ cấu ngành, nghề; đồng thời bảo đảm các quy định về an toàn lao động, phòng cháy chữa cháy, bảo hộ.
Đáng chú ý, việc xác định diện tích phục vụ đào tạo được đề xuất theo hướng chuyển từ cách tính theo “chỗ học” sang tính theo “người học”. Cách tiếp cận này nhằm phản ánh đầy đủ hơn khả năng khai thác, sử dụng cơ sở vật chất của nhà trường và tạo sự chủ động trong bố trí phòng học, phòng thực hành, thực tập phù hợp với từng chương trình và phương thức tổ chức đào tạo.
Làm rõ yêu cầu về quản trị và căn cứ đánh giá
Bên cạnh các yêu cầu về đội ngũ và cơ sở vật chất, dự thảo cũng điều chỉnh một số nội dung về quản trị của cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng rõ ràng, cụ thể hơn.
Tại Mục 2 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 38/2026/TT-BGDĐT quy định: Việc xác định mức độ đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng của cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo Phụ lục này được thực hiện trên cơ sở dữ liệu của toàn cơ sở giáo dục nghề nghiệp; đối với các yêu cầu liên quan đến tổ chức đào tạo thì áp dụng dữ liệu các chương trình đào tạo cấp văn bằng trong năm báo cáo.
So với quy định cũ, dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38/2026/TT-BGDĐT đã bổ sung 3 nội dung mới, làm rõ phạm vi và cách xác định dữ liệu nhằm bảo đảm thống nhất về nguồn dữ liệu, phạm vi dữ liệu và phương pháp xác định khi đánh giá mức độ đáp ứng chuẩn.
Cụ thể, người học quy đổi quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này được xác định theo quy mô người học quy đổi (Qₙ) quy định tại Chỉ số 02 Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 38/2026/TT-BGDĐT ngày 29 tháng 4 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Tổng số nhà giáo quy đổi được xác định trên cơ sở số nhà giáo cơ hữu và số nhà giáo đồng cơ hữu, nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu, nhà giáo thỉnh giảng, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nghề nghiệp có tham gia giảng dạy được quy đổi. Việc quy đổi nhà giáo đồng cơ hữu thực hiện theo quy định của pháp luật; việc quy đổi nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu, nhà giáo thỉnh giảng và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nghề nghiệp có tham gia giảng dạy được xác định trên cơ sở khối lượng giảng dạy thực tế trong năm báo cáo được quy đổi ra giờ chuẩn và định mức giờ chuẩn tương ứng theo quy định về chế độ làm việc của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp.
Việc cụ thể hóa các yêu cầu về đội ngũ, cơ sở vật chất và quản trị nhằm giúp các tiêu chí của Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể đo lường, kiểm chứng và áp dụng thống nhất; đồng thời tạo căn cứ để các cơ sở tự đánh giá, xây dựng kế hoạch phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo.
Chi tiết dự thảo, xem TẠI ĐÂY.
Thông tư số 38/2026/TT-BGDĐT ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp gồm 4 chương, 14 điều có hiệu lực thi hành từ ngày 29/4/2026.
Cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã có quyết định về việc thành lập, cho phép thành lập, chia, tách, sáp nhập trước ngày 01 tháng 01 năm 2026 phải đáp ứng quy định chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời hạn 60 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.
Hằng năm, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư này phải thực hiện việc cập nhật dữ liệu, tự đánh giá, báo cáo và công khai kết quả tự đánh giá mức độ đáp ứng chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo quy định tại Thông tư này; đồng thời xây dựng kế hoạch, lộ trình cải tiến để bảo đảm đáp ứng chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời hạn 60 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.