Đặt hàng trường tư để giảm áp lực thi vào 10 công lập: Cần cơ chế ra sao để hiệu quả, khả thi?

03/10/2026 06:46
Doãn Nhàn

GDVN - Trước áp lực tuyển sinh vào lớp 10 công lập, bên cạnh việc mở rộng mạng lưới trường học, bài toán huy động nguồn lực từ hệ thống giáo dục ngoài công lập cũng được đặt ra.

Tại phiên giải trình của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn về việc thực hiện các luật, nghị quyết mới trong lĩnh vực giáo dục vừa qua, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai - Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất Nhà nước có thể đặt hàng dịch vụ giáo dục hoặc hỗ trợ học phí cho học sinh theo học tại các trường tư thục, nhằm mở rộng cơ hội học tập với chi phí hợp lý.

Giải pháp phù hợp giúp tránh lãng phí nguồn lực xã hội

Tiến sĩ Đàm Quang Minh trong một tiết học với các em học sinh phổ thông. Ảnh: EQuest Group
Tiến sĩ Đàm Quang Minh trong một tiết học với các em học sinh phổ thông. Ảnh: EQuest Group

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Đàm Quang Minh - Phó Tổng Giám đốc kiêm Chủ tịch Khối Phổ thông của Tập đoàn Giáo dục EQuest cho rằng, đề xuất Nhà nước đặt hàng dịch vụ giáo dục hoặc hỗ trợ học phí cho học sinh theo học tại các trường tư thục là hướng đi phù hợp trong bối cảnh áp lực tuyển sinh vào lớp 10 công lập còn lớn, trong khi nhu cầu học tập trung học phổ thông ngày càng cao.

Theo Tiến sĩ Đàm Quang Minh, mô hình này không mới, từng được Trung Quốc áp dụng trong thời gian dài khi nguồn lực trường công lập chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Đây cũng là giải pháp có cơ sở thực tiễn, nhất là khi hệ thống trường trung học phổ thông tư thục tại nhiều địa phương đã phát triển, chiếm khoảng 20-30% tổng số trường.

Trong bối cảnh hiện nay, việc huy động hệ thống trường tư thục tham gia tiếp nhận học sinh, chia sẻ áp lực với trường công lập là phù hợp. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, chính sách cần tính toán phương án hỗ trợ kinh phí hợp lý, bảo đảm các trường có đủ nguồn lực duy trì hoạt động và đáp ứng yêu cầu về chất lượng giáo dục.

“Mức hỗ trợ cần tính đến các chi phí cần thiết để trường tư thục tổ chức dạy học, từ đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất đến các hoạt động vận hành khác”, Tiến sĩ Đàm Quang Minh nói.

Học sinh Trường Trung học phổ thông An Dương Vương (Hà Nội) trong một tiết học. Ảnh: FBNT
Học sinh Trường Trung học phổ thông An Dương Vương (Hà Nội) trong một tiết học. Ảnh: FBNT

Thầy Đỗ Minh Tuấn - Phó Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông An Dương Vương (Hà Nội) cho rằng, trong bối cảnh áp lực tuyển sinh vào lớp 10 công lập còn lớn, việc tận dụng hệ thống trường tư thục hiện có và có chính sách hỗ trợ học phí cho học sinh là một hướng cần được tính đến. Giải pháp này không chỉ góp phần mở rộng cơ hội học tập mà còn giúp sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội đã đầu tư cho giáo dục.

Theo thầy Tuấn, để xây mới một trường trung học phổ thông công lập, Nhà nước cần bố trí nguồn ngân sách lớn cho nhiều hạng mục, từ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị đến tuyển dụng và duy trì đội ngũ giáo viên. Trong khi đó, tại một số địa phương, các trường tư thục đã có sẵn cơ sở vật chất nhưng chưa khai thác hết công suất. Nếu tiếp tục đầu tư xây dựng trường công mà chưa tính đến năng lực tiếp nhận của hệ thống tư thục, nguồn lực chung của xã hội có thể chưa được sử dụng hiệu quả.

Thầy Tuấn dẫn chứng, năm học này, Trường Trung học phổ thông An Dương Vương chỉ tuyển được khoảng 150 học sinh, trong khi hiện vẫn còn dư 7 phòng học. Theo thầy, thực tế này cho thấy cần có sự tính toán đồng bộ về quy hoạch mạng lưới trường học, thay vì chỉ tập trung mở rộng trường công lập mà chưa khai thác hết năng lực của các cơ sở ngoài công lập.

Một vấn đề khác được thầy Tuấn quan tâm là nguy cơ các trường tư thục gặp khó khăn trong tuyển sinh và duy trì đội ngũ giáo viên nếu không có cơ chế hỗ trợ phù hợp. Thầy lấy ví dụ tại khu vực Đông Anh cũ (Hà Nội), việc cạnh tranh tuyển sinh giữa các trường đã kéo theo biến động nhân sự. Vừa qua, nhà trường đã ghi nhận có khoảng 4-5 giáo viên xin nghỉ để chuyển sang trường khác, điều này đã ảnh hưởng đến sự ổn định của đội ngũ và hoạt động nhà trường.

Từ thực tế đó, thầy Tuấn cho rằng, Nhà nước cần nghiên cứu cơ chế đặt hàng dịch vụ giáo dục hoặc hỗ trợ học phí để học sinh có thêm điều kiện lựa chọn trường tư thục phù hợp. Khi được hỗ trợ, chi phí học tập tại các trường ngoài công lập có thể giảm, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận của học sinh và tạo điều kiện để các trường khai thác hiệu quả cơ sở vật chất hiện có.

Tuy nhiên, theo thầy, chính sách cần làm rõ mức hỗ trợ học phí và cơ chế đặt hàng, đồng thời bảo đảm yêu cầu về chất lượng giáo dục. Việc mở rộng cơ hội học tập tại trường tư thục cũng cần đi kèm với quy hoạch mạng lưới trường công lập hợp lý, tạo sự phát triển hài hòa giữa hai khu vực, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 71-NQ/TW về vai trò của giáo dục công lập và ngoài công lập.

Để trường tư trở thành lựa chọn phù hợp với nhiều gia đình

Bên cạnh việc mở rộng mạng lưới trường công lập và hỗ trợ các trường tư thục chia sẻ áp lực tuyển sinh lớp 10, một vấn đề được đặt ra là làm thế nào để giáo dục ngoài công lập thực sự trở thành lựa chọn phù hợp với nhiều gia đình, thay vì chỉ là phương án dành cho học sinh không trúng tuyển trường công. Theo một lãnh đạo trường trung học phổ thông tư thục, để thực hiện mục tiêu này, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ học phí, đặt hàng dịch vụ giáo dục gắn với điều kiện về chất lượng và bảo đảm quyền lợi của người học.

Theo vị này, cần thay đổi cách nhìn nhận về trường tư thục, xác định đây là bộ phận chính thức, cần thiết của hệ thống giáo dục quốc dân, thay vì chỉ xem là nơi tiếp nhận học sinh không trúng tuyển trường công lập. Vai trò của khối trường tư càng rõ nét tại các đô thị lớn, nơi dân số cơ học tăng nhanh, nhu cầu học trung học phổ thông cao, trong khi việc đầu tư thêm trường công, quỹ đất và đội ngũ giáo viên cần nhiều thời gian.

Dẫn chứng tại Hà Nội, năm học 2026-2027, thành phố giao 81.448 chỉ tiêu lớp 10 cho 124 trường trung học phổ thông công lập và công lập chất lượng cao, đồng thời giao 34.059 chỉ tiêu cho 89 trường tư thục. Như vậy, chỉ tiêu của khối tư thục tương đương gần 30% tổng chỉ tiêu của hai khối trường này. Theo vị lãnh đạo, quy mô đó cho thấy trường tư đã trở thành một nguồn cung giáo dục đáng kể, không còn đơn thuần giữ vai trò bổ trợ cho hệ thống công lập.

Đáng chú ý, dù tỷ lệ thí sinh Hà Nội dự thi vào lớp 10 trúng tuyển trường công lập năm 2026 đã vượt 80%, vai trò của trường tư vẫn cần được nhìn nhận trong bối cảnh nhu cầu giáo dục ngày càng đa dạng. Phụ huynh và học sinh không chỉ quan tâm đến việc có chỗ học mà còn có nhu cầu lựa chọn môi trường, chương trình, phương pháp giáo dục và dịch vụ phù hợp.

Về cơ chế hỗ trợ, vị này cho rằng Nhà nước cần nghiên cứu nghiêm túc việc đặt hàng dịch vụ giáo dục, đồng thời lưu ý chính sách hỗ trợ học phí cho học sinh trường tư đã có cơ sở triển khai. Nghị định số 238/2025/NĐ-CP quy định học sinh phổ thông tại cơ sở giáo dục dân lập, tư thục thuộc đối tượng được hỗ trợ học phí; mức hỗ trợ cụ thể do địa phương quyết định theo quy định. Tại Hà Nội, chính sách hỗ trợ học phí cho học sinh trường tư cũng đã được thực hiện từ năm học 2025-2026.

Nếu mở rộng sang cơ chế đặt hàng, theo vị lãnh đạo, nguyên tắc cần đặt ra là Nhà nước mua dịch vụ giáo dục cho người học, chứ không phải bao cấp cho chủ sở hữu trường tư. Có thể thiết kế chính sách theo hướng kinh phí đi theo người học, nhưng không nên áp dụng một mức hỗ trợ đồng đều cho tất cả học sinh.

Cụ thể, mức hỗ trợ có thể gồm khoản cơ bản căn cứ vào chi phí đào tạo hợp lý trên mỗi học sinh, đồng thời có hệ số bổ sung đối với học sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật hoặc học sinh ở những địa bàn thiếu trường công lập.

Ngân sách công phải đi kèm trách nhiệm và chất lượng

Học sinh trường Marie Curie. Ảnh: website nhà trường
Học sinh trường Marie Curie. Ảnh: website nhà trường

Từ kinh nghiệm quốc tế, vị này đề cập một số mô hình có thể tham khảo. Tại Thái Lan, chương trình giáo dục miễn phí 15 năm có cơ chế phân bổ kinh phí theo đầu học sinh, trong đó các trường tư đủ điều kiện cũng được nhận trợ cấp. Tuy nhiên, hỗ trợ đồng đều có thể chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của học sinh nghèo, do đó cần có khoản bổ sung theo hoàn cảnh kinh tế.

Trong khi đó, Hàn Quốc có hệ thống trường tư tham gia mạnh vào giáo dục phổ thông, nhưng Nhà nước vẫn tài trợ phần lớn chi phí giáo dục. Nhật Bản cũng triển khai chính sách hỗ trợ học phí trung học phổ thông cho cả trường công và trường tư, với mức hỗ trợ có thể cao hơn đối với học sinh thuộc gia đình thu nhập thấp.

Ngược lại, kinh nghiệm của Chile là lời cảnh báo về những rủi ro khi triển khai cơ chế ngân sách theo học sinh mà thiếu các điều kiện kiểm soát. Theo vị lãnh đạo, việc trường được nhận ngân sách công nhưng vẫn có thể thu thêm nhiều khoản và lựa chọn học sinh có thể dẫn đến phân tầng xã hội. Vì vậy, chính sách đặt hàng trường tư tại Việt Nam cần đi kèm những ràng buộc cụ thể về tuyển sinh, học phí và trách nhiệm giải trình.

“Bài học cho Việt Nam là có thể đặt hàng trường tư, nhưng phải đặt hàng có điều kiện. Trường tham gia cần công khai học phí và tất cả khoản thu; bảo đảm chuẩn về giáo viên, sĩ số, cơ sở vật chất, an toàn trường học; có cơ chế tuyển sinh minh bạch đối với số học sinh được ngân sách hỗ trợ; không được phát sinh những khoản thu khiến chính sách hỗ trợ mất ý nghĩa; đồng thời phải chịu kiểm tra, kiểm định và công khai kết quả giáo dục.

Chất lượng cũng không nên chỉ đo bằng điểm thi. Cần xem cả sự tiến bộ của học sinh, tỷ lệ chuyên cần, bỏ học, tốt nghiệp, an toàn trường học, sự hài lòng của phụ huynh và việc thực hiện đầy đủ chương trình giáo dục”, vị lãnh đạo nhấn mạnh.

Bên cạnh chi phí, vị lãnh đạo chỉ ra một số rào cản khác khiến trường tư chưa trở thành lựa chọn phù hợp với đông đảo gia đình. Đó là chất lượng giữa các trường chưa đồng đều và sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa hai loại hình. Trong khi trường công được Nhà nước đầu tư đất đai, cơ sở vật chất và ngân sách hoạt động, trường tư phải tự trang trải phần lớn những chi phí này và tính vào học phí. Do đó, nếu chỉ so sánh mức học phí mà không tính đến nguồn lực công đã đầu tư cho trường công thì chưa phản ánh đầy đủ chi phí thực tế của giáo dục.

Từ đó, vị này đề xuất nghiên cứu mô hình hỗ trợ hai tầng, gồm mức hỗ trợ cơ bản cho học sinh theo học tại cơ sở giáo dục đủ điều kiện và mức bổ sung cao hơn cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Song song với hỗ trợ trực tiếp người học, Nhà nước có thể xem xét chính sách về đất đai, thuế và tín dụng đầu tư dài hạn cho trường ngoài công lập. Tuy nhiên, ưu đãi càng lớn thì nghĩa vụ xã hội của các trường càng cần được quy định rõ, từ tỷ lệ chỗ học dành cho học sinh được hỗ trợ đến việc kiểm soát mức thu, công khai tài chính và bảo đảm chất lượng.

Theo vị lãnh đạo, mục tiêu không phải là làm cho trường tư giống trường công hay đặt hai hệ thống vào thế cạnh tranh, mà là huy động hiệu quả nguồn lực xã hội để mỗi học sinh có cơ hội tiếp cận một môi trường giáo dục phù hợp với chi phí hợp lý. Về lâu dài, có thể nghiên cứu cơ chế để một phần ngân sách bảo đảm quyền học tập của học sinh đi theo người học đến cơ sở giáo dục đủ chuẩn mà gia đình lựa chọn. Điều kiện quan trọng là nguồn ngân sách công phải đi kèm trách nhiệm công, chất lượng được công khai và cơ hội tiếp cận công bằng.

Doãn Nhàn