Môn Tin học: Giáo viên thấy nhiều nội dung lý thuyết quá chuyên sâu, đề xuất tăng tiết dạy

10/10/2026 06:40
Trần Trang

GDVN - Nhiều giáo viên Tin học trăn trở khi thời lượng cho thực hành của học sinh còn ít, trong khi lý thuyết hàn lâm lại nhiều.

Thực hiện yêu cầu của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang rà soát Chương trình giáo dục phổ thông, hướng tới hoàn thiện sách giáo khoa để sử dụng thống nhất từ năm học 2028-2029. Chương trình theo hướng giảm tải, lấy giáo dục phổ thông làm nền tảng; bảo đảm mọi học sinh được học tập, được trang bị đầy đủ kiến thức, kĩ năng, phẩm chất và năng lực cần thiết; đồng thời chú trọng giáo dục đạo đức, nhân cách, lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm và khát vọng cống hiến.

Trước thông tin này, nhiều giáo viên kỳ vọng môn Tin học sẽ được cập nhật giảm lý thuyết, tăng thực hành, bổ sung những kỹ năng quan trọng cho học sinh trong thời đại số.

Một số nội dung còn nặng tính hàn lâm

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Nguyễn Nhật Minh Đăng – giáo viên Tin học của Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Thạnh Mỹ (tỉnh Lâm Đồng) chia sẻ: “Tôi nhận thấy chương trình mới có nhiều điểm tiến bộ, đặc biệt là đã quan tâm đến năng lực số, an toàn và trách nhiệm của học sinh trong môi trường số.

Tuy nhiên, từ thực tế đứng lớp, tôi mong lần điều chỉnh này sẽ mạnh dạn giảm bớt những nội dung mang tính khái niệm, hàn lâm đối với học sinh nhỏ tuổi và dành nhiều không gian hơn cho thực hành”.

Theo thầy Đăng, với học sinh tiểu học, các em tiếp thu Tin học hiệu quả nhất khi được trực tiếp thao tác trên máy tính: sử dụng chuột, bàn phím, quản lí tệp và thư mục, soạn thảo, trình bày sản phẩm, sử dụng phần mềm và từng bước làm quen với tư duy lập trình. Khái niệm vẫn cần thiết, nhưng nên được hình thành từ hoạt động và trải nghiệm của học sinh, thay vì dành quá nhiều thời gian để các em ghi nhớ thuật ngữ.

Giai đoạn trước, học sinh được thực hành lặp lại khá nhiều nên những thao tác như gõ bàn phím, sử dụng chuột, mở, lưu và quản lí tệp dần trở thành kĩ năng. Hiện nay, yêu cầu cần đạt rộng hơn, trong khi thời lượng có hạn, giáo viên phải thực hiện nhiều yêu cầu trong một tiết học nên thời gian để từng học sinh trực tiếp thao tác chưa nhiều.

“Tôi mong chương trình theo hướng giảm khái niệm – tăng thao tác – tạo sản phẩm. Nếu học xong một chủ đề mà các em tạo được một văn bản, bài trình chiếu, sản phẩm đồ họa, chương trình đơn giản hay giải quyết được một nhiệm vụ thực tế thì kiến thức sẽ tự nhiên trở nên có ý nghĩa.

Ngoài ra, tôi rất mong sách giáo khoa mới đi kèm một hệ sinh thái học liệu số chính thức: video hướng dẫn thao tác, bài thực hành theo nhiều mức độ, dữ liệu mẫu, phần mềm hoặc nền tảng học tập phù hợp và tài nguyên để giáo viên có thể linh hoạt lựa chọn theo điều kiện thiết bị của từng trường.

Theo tôi, mục tiêu cuối cùng của môn Tin học không nên dừng ở việc học sinh “biết về máy tính”, mà phải tiến tới “làm được với máy tính”, biết sử dụng công nghệ an toàn, có trách nhiệm, sáng tạo và phục vụ cho việc học tập cũng như cuộc sống” – thầy Đăng cho hay.

thay-dang.jpg
Thầy Nguyễn Nhật Minh Đăng – giáo viên Tin học của Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Thạnh Mỹ (tỉnh Lâm Đồng). Ảnh: NVCC

Để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia và Khung nội dung giáo dục trí tuệ nhân tạo cho học sinh phổ thông vừa được ban hành, thầy Nguyễn Nhật Linh - giáo viên Tin học của Trường Tiểu học Ngan Dừa (tỉnh Bạc Liêu) cho rằng chương trình môn Tin học cần được cập nhật thường xuyên để theo kịp sự phát triển nhanh của công nghệ số và những yêu cầu mới về kỹ năng số.

Theo thầy Linh, ở cấp tiểu học, bên cạnh những kiến thức nền tảng về máy tính và công nghệ, chương trình cần từng bước trang bị cho học sinh khả năng nhận diện và sử dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp với lứa tuổi.

Các nội dung về văn hóa ứng xử trên môi trường mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhận biết nguy cơ mất an toàn thông tin và tôn trọng bản quyền cũng cần được đưa vào chương trình theo cách trực quan, gần gũi với trải nghiệm thực tế của học sinh.

Dung lượng chữ dùng để giải thích lý thuyết trong sách giáo khoa hiện còn khá lớn so với khả năng tiếp nhận của học sinh tiểu học. Vì vậy, sách cần tăng cường “kênh hình”, sử dụng hình ảnh minh họa, infographic, sơ đồ quy trình và các tình huống gần gũi để chuyển tải kiến thức.

Theo thầy, các bài tập cũng cần được thiết kế theo hướng gắn với những tình huống học sinh có thể gặp trong đời sống số. Cách tiếp cận này không chỉ giúp học sinh vận dụng kiến thức mà còn góp phần hình thành sự chủ động, khả năng tư duy phản biện và năng lực tự học.

b39c71bc-2aad-45bb-91f6-f51751de8ba8.jpg
Thầy Nguyễn Nhật Linh - giáo viên Tin học của Trường Tiểu học Ngan Dừa (tỉnh Bạc Liêu). Ảnh: NVCC

Cùng bàn luận về chủ đề này, thầy Hoàng Dương Hòa – giáo viên Tin học của Trường Tiểu học và Trung học cơ sở A Ngo (tỉnh Quảng Trị) cho biết, chương trình chia môn Tin học thành ba mạch: Học vấn số hóa phổ dụng, Công nghệ thông tin và Khoa học máy tính. Tuy nhiên, sách giáo khoa ở một số lớp đôi khi vẫn còn nặng tính hàn lâm.

“Chúng ta cần mạnh dạn lược bớt những lý thuyết quá sâu về Khoa học máy tính ở cấp dưới (như các thuật toán phức tạp hay chuyển đổi hệ đếm) và thói quen dạy học sinh thao tác rập khuôn trên một phần mềm cụ thể (ví dụ bắt buộc dùng đúng một phiên bản hệ điều hành hay bộ công cụ văn phòng cũ). Công nghệ thay đổi mỗi ngày, việc học thuộc các nút bấm dễ trở nên vô dụng.

Chương trình xuyên suốt từ lớp 3 đến lớp 12 có thuận lợi là một số mạch kiến thức được nhắc lại nhiều lần, giúp học sinh khắc sâu. Tuy nhiên, điều này cũng khiến kiến thức trở nên rời rạc, đặc biệt ở học sinh tiểu học và trung học cơ sở. Với tâm lý “học mà chơi, chơi mà học”, các em dễ rơi vào tình trạng “nay học, mai quên”, chưa kể năm học này học một ít, năm học sau học một ít” – thầy Hòa bày tỏ.

Theo thầy, định hướng chương trình nên khuyến khích học sinh thẩm thấu tư duy logic thông qua các ngôn ngữ lập trình kéo thả trực quan. Khi các em được tự tay ghép các khối lệnh để làm ra một trò chơi tương tác nhỏ hay tạo một câu chuyện hoạt hình, việc lập trình sẽ không còn là một môn học “nhức đầu” mà trở thành một sân chơi kích thích sự sáng tạo.

Khung chương trình nên mở hơn, đặt ra các yêu cầu về năng lực thực chiến. Chẳng hạn, yêu cầu học sinh biết cách tổ chức một bài trình chiếu có cấu trúc rõ ràng, biết tạo các biểu mẫu trực tuyến để thu thập thông tin, hay hiểu được logic phân tích dữ liệu trên bảng tính. Những kỹ năng ứng dụng thực tế này không chỉ giúp các em học tập tốt hơn mà còn đóng góp trực tiếp vào công cuộc chuyển đổi số đang diễn ra rất mạnh mẽ tại các nhà trường.

Đặc biệt, cần đưa giáo dục an toàn mạng và văn hóa số thành một trục nội dung bắt buộc và xuyên suốt. Hiện nay, những bài học về an toàn trực tuyến, phòng chống bắt nạt trên mạng hay cách nhận biết thông tin độc hại thường chỉ được thiết kế dưới dạng vài tiết học lướt qua hoặc tích hợp khá mờ nhạt.

Trong bối cảnh internet len lỏi vào mọi mặt đời sống ngay từ lứa tuổi mầm non và tiểu học, chương trình cần coi đây là một mạch kiến thức độc lập. Học sinh cần được trang bị “sức đề kháng” vững chắc để tự bảo vệ mình trên không gian mạng trước khi học cách khai thác các công cụ kỹ thuật phức tạp.

20251104-1317072.jpg
Thầy Hoàng Dương Hòa – giáo viên Tin học của Trường Tiểu học và Trung học cơ sở A Ngo (tỉnh Quảng Trị). Ảnh: NVCC

Đề xuất tăng thời lượng môn Tin học lên 2 tiết/tuần

Đảm nhiệm nhiều yêu cầu trong bối cảnh chuyển đổi số, môn Tin học lại chỉ được bố trí 1 tiết/tuần, khiến giáo viên lo ngại thời lượng chưa đáp ứng yêu cầu rèn luyện kỹ năng cho học sinh. Thầy Hòa cho rằng, quỹ thời gian 35-45 phút mỗi tuần cho một môn học đòi hỏi sự rèn luyện tay nghề cao là hoàn toàn bất hợp lý và chưa đáp ứng được yêu cầu.

“Hãy hình dung một lớp học thực hành: các em ổn định chỗ ngồi, khởi động máy tính (đôi khi máy cũ, chạy chậm hoặc lỗi mạng), giáo viên tóm tắt lại lý thuyết thì đã mất gần nửa thời gian. Vài chục phút còn lại để học sinh thực sự gõ phím, thiết lập một hàm tính toán hay chạy thử một đoạn mã là không đủ để biến kiến thức thành phản xạ kỹ năng.

Bên cạnh đó, việc rải rác mỗi tuần một tiết khiến mạch học tập bị đứt đoạn. Tuần này vừa quen tay, tuần sau các em đã quên sạch vì đa số không có máy tính ở nhà để luyện tập thường xuyên. Trong bối cảnh các trường học đang nỗ lực thúc đẩy mạnh mẽ các giải pháp chuyển đổi số, việc duy trì thời lượng nhỏ giọt như thế này thực sự là một chiếc áo quá chật để đào tạo ra những công dân số thành thạo” – thầy Hòa cho hay.

Trong khi đó, hệ thống giáo dục Singapore tiếp cận Tin học từ sớm và triển khai xuyên suốt từ cấp tiểu học, trung học cơ sở đến dự bị đại học. Ở cấp trung học, thời lượng dành cho môn Tin học (như hệ O-Level và G2) thường là 3 giờ mỗi tuần.

Vì vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần trao quyền cho các nhà trường linh hoạt trong việc bố trí thời khóa biểu, đồng thời xem xét tăng thời lượng môn Tin học lên 2 tiết/tuần. Với 90 phút liên tục, giáo viên có đủ thời gian hướng dẫn học sinh thực hiện và hoàn thiện một bài thực hành từ đầu đến cuối, hạn chế tình trạng gián đoạn.

Thầy Đăng nhận định, nếu muốn học sinh thực sự hình thành kĩ năng số thì thời lượng hiện nay còn khá hạn chế, đặc biệt đối với một môn học có tính đặc thù như Tin học. Nếu phòng Tin học có ít máy tính, một máy có nhiều học sinh sử dụng chung thì thời gian thực hành của mỗi em lại càng ít hơn.

Theo thầy Đăng, kỹ năng Tin học cũng giống như tập viết hay học bơi, giáo viên hướng dẫn là cần thiết nhưng học sinh phải có đủ thời gian tự mình thực hiện thì mới trở thành kỹ năng. Trong khi đó, yêu cầu đối với học sinh hiện nay không hề giảm mà còn mở rộng sang năng lực số, Internet, an toàn số, tư duy máy tính, lập trình…

“Tôi mong môn Tin học được tổ chức 2 tiết/tuần, trong đó có thể bố trí một tiết tập trung hình thành kiến thức, hướng dẫn nhiệm vụ và một tiết ưu tiên thực hành, tạo sản phẩm. Khi đó, việc phát triển năng lực số cho học sinh mới có điều kiện đi vào thực chất” – thầy Đăng chia sẻ.

Thầy Linh cho rằng việc điều chỉnh chương trình, đồng thời tăng thời lượng môn Tin học lên 2 tiết/tuần là cần thiết. Thời lượng này sẽ tạo thêm điều kiện để giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành trực tiếp trên máy tính, làm việc nhóm, trải nghiệm các ứng dụng số và rèn luyện khả năng kiểm chứng thông tin.

Theo thầy Linh, một trong những rào cản lớn hiện nay là điều kiện cơ sở vật chất tại nhiều địa phương, nhà trường và điểm trường vùng khó khăn. Không ít nơi chưa có phòng máy tính hoặc thiết bị đã xuống cấp, không đáp ứng đủ nhu cầu thực hành của học sinh. Do đó, cần ưu tiên nguồn lực đầu tư đồng bộ hạ tầng công nghệ, phòng máy đạt chuẩn và hệ thống Internet an toàn, qua đó bảo đảm cơ hội tiếp cận công nghệ bình đẳng cho học sinh.

Bên cạnh đầu tư cơ sở vật chất, giáo viên cần chủ động cập nhật kiến thức thực tiễn, đổi mới phương pháp dạy học, khai thác linh hoạt các nền tảng học tập trực quan, miễn phí và tổ chức dạy học theo dự án STEM, STEAM. Với những trường còn hạn chế về phòng máy, giáo viên có thể sử dụng bài tập mô phỏng, thảo luận tình huống để giúp học sinh hình thành tư duy công nghệ trước khi thực hành trực tiếp trên máy tính.

Trần Trang