Trường nghệ thuật được “nới” yêu cầu về khoa học công nghệ nhưng còn băn khoăn tỷ trọng thu 5%

10/10/2026 06:22
Thúy Hiền

GDVN - Theo Tiến sĩ Phan Lê Chung, sự khác biệt về phạm vi áp dụng giữa tiêu chí 6.1 và 6.2 của Chuẩn CSGDĐH có thể dẫn đến độ vênh nhất định trong cách tiếp cận và đánh giá đối với các cơ sở đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật, nhóm ngành thể dục, thể thao.

Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT quy định Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, thay thế Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 11 năm 2026.

Thông tư cũng quy định những điều kiện đối với các trường đào tạo ngành đặc thù. Theo đó, trường đào tạo ngành đặc thù là trường đại học, học viện đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực Nghệ thuật; nhóm ngành Thể dục, thể thao; nhóm ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài với quy mô đào tạo các ngành này chiếm ít nhất 70% tổng quy mô đào tạo toàn trường.

So với Tiêu chuẩn 6 về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo tại quy định hiện hành, Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT cho phép các cơ sở đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật và nhóm ngành thể dục, thể thao không bắt buộc áp dụng tiêu chí 6.2. Còn Tiêu chí 6.1 về tỷ trọng thu khoa học - công nghệ áp dụng chung với tất cả cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ, không loại trừ các trường đào tạo ngành đặc thù.

Điều này đặt ra vấn đề về mức độ tương thích giữa các yêu cầu của Tiêu chuẩn 6 với đặc điểm hoạt động thực tế của các cơ sở đào tạo ngành đặc thù.

Chuẩn mới tạo điều kiện để trường nghệ thuật phát huy giá trị riêng

Tiêu chí 6.2, Tiêu chuẩn 6, Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT quy định: Kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tính bình quân trên một giảng viên quy đổi không thấp hơn 0,3 sản phẩm quy đổi/năm; trường hợp đối với cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ không phải trường đào tạo ngành đặc thù không thấp hơn 0,6 sản phẩm quy đổi/năm, trong đó số bài trong Danh mục Web of Science hoặc Scopus (có tính trọng số theo lĩnh vực) không thấp hơn 0,3 sản phẩm quy đổi/năm.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Huy Phương - Giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam cho biết, đây là quy định phù hợp với đặc thù hoạt động của nhóm cơ sở đào tạo ngành đặc thù hiện nay. Đặc biệt, có thể xem là cách tiếp cận linh hoạt trong xây dựng chuẩn cơ sở giáo dục đại học, khi cùng một hệ thống tiêu chuẩn nhưng mức độ yêu cầu cần được đặt trong tương quan với lĩnh vực đào tạo, chức năng và đặc điểm chuyên môn của từng nhóm trường.

Đối với các cơ sở đào tạo nghệ thuật, tỷ trọng cũng như hình thức triển khai các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo khó có thể đặt ngang với các trường đào tạo những lĩnh vực như khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ hoặc những ngành có hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ mạnh.

Đặc thù của đào tạo nghệ thuật nằm nhiều ở thực hành sáng tạo, biểu diễn, sáng tác, nghiên cứu văn hóa, bảo tồn và phát triển các giá trị nghệ thuật. Vì vậy, nếu áp dụng một cách đồng nhất các chỉ số về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa các nhóm trường mà không tính đến đặc điểm ngành nghề thì có thể dẫn đến việc đánh giá chưa phản ánh đầy đủ bản chất và chất lượng hoạt động của cơ sở đào tạo.

Trong cơ cấu đào tạo của các trường nghệ thuật, những chuyên ngành có mức độ gắn trực tiếp với khoa học, công nghệ và hoạt động đổi mới sáng tạo không nhiều. Do đó, việc không bắt buộc các trường đào tạo ngành đặc thù phải đạt những tỷ lệ hoặc chỉ số tương đương với các cơ sở đào tạo có thế mạnh về nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và công nghệ sẽ giúp các tiêu chí đánh giá sát hơn với đặc điểm, chức năng và điều kiện thực tế của từng nhóm cơ sở đào tạo.

pgs-ts-ng-huy-phuong.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Huy Phương - Giám đốc Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Ảnh: website nhà trường.

Theo Phó Giáo sư Nguyễn Huy Phương, việc không bắt buộc áp dụng một số tiêu chí không nên được hiểu là các trường nghệ thuật, thể dục, thể thao được giảm yêu cầu về chất lượng. Vấn đề nằm ở chỗ chuẩn đánh giá cần phản ánh đúng những giá trị cốt lõi mà từng nhóm cơ sở đào tạo có khả năng tạo ra.

Vì vậy, việc thiết kế quy định theo hướng linh hoạt, mở hơn sẽ giúp chuẩn cơ sở giáo dục đại học vừa duy trì được yêu cầu về chất lượng chung, vừa tránh áp dụng máy móc một hệ tiêu chí cho những mô hình đào tạo có đặc điểm rất khác nhau. Đây cũng là cơ sở để các trường đặc thù tập trung nguồn lực vào những hoạt động phù hợp với chức năng, thế mạnh chuyên môn và sứ mạng đào tạo của mình, thay vì phải ưu tiên đáp ứng những chỉ số không phản ánh đầy đủ giá trị cốt lõi của nhà trường.

Đồng quan điểm trên, Tiến sĩ Phan Lê Chung - Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học Huế cho biết, quy định không bắt buộc các cơ sở đào tạo lĩnh vực nghệ thuật và nhóm ngành thể dục, thể thao áp dụng Tiêu chí 6.2 là một điều chỉnh rất phù hợp, sát với đặc thù và thực tiễn hoạt động của nhóm ngành này.

Quy định mới không chỉ thể hiện sự linh hoạt trong xây dựng chuẩn cơ sở giáo dục đại học, mà còn góp phần tháo gỡ một điểm nghẽn lâu nay đối với các trường nghệ thuật khi phải áp dụng những tiêu chí về kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo cách tiếp cận tương tự các khối ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

“Thế mạnh của các cơ sở đào tạo nghệ thuật nằm nhiều ở hoạt động sáng tạo và các sản phẩm nghệ thuật. Do đó, việc không bắt buộc áp dụng tiêu chí 6.2 là cách tiếp cận phù hợp, giúp việc đánh giá kết quả hoạt động của giảng viên sát hơn với đặc trưng nghề nghiệp và giá trị đào tạo của từng lĩnh vực.

Theo đó, kết quả của giảng viên không nên chỉ được nhìn nhận thông qua những chỉ số khoa học, công nghệ mang tính phổ quát hoặc các sản phẩm nghiên cứu theo chuẩn quốc tế, mà cần tính đến giá trị của những sáng tạo nghệ thuật, đóng góp về văn hóa cũng như tác động đối với cộng đồng.

Bên cạnh các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học hay sản phẩm mang tính học thuật, cần ghi nhận đầy đủ hơn những sản phẩm đặc thù của lĩnh vực nghệ thuật như tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, sách chuyên khảo và các sản phẩm sáng tạo khác. Đây không chỉ là những kết quả chuyên môn của giảng viên mà còn là những giá trị cốt lõi tạo nên đặc trưng và đóng góp riêng của các cơ sở đào tạo nghệ thuật.

Theo tôi, cách tiếp cận này sẽ giúp việc đánh giá chất lượng cơ sở đào tạo trở nên thực chất, công bằng hơn, đồng thời tạo điều kiện để các trường nghệ thuật phát huy đúng thế mạnh, thay vì phải chạy theo những thước đo vốn được thiết kế chủ yếu cho các khối ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ”, Tiến sĩ Phan Lê Chung nhận định.

ts-phan-le-chung.jpg
Tiến sĩ Phan Lê Chung - Phó Hiệu trưởng phụ trách Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học Huế. Ảnh: NVCC.

Bên cạnh đó, việc ghi nhận nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân, nghệ nhân có bằng đại học hoặc sau đại học được xem xét tính hệ số như giảng viên có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ được Tiến sĩ Phan Lê Chung đánh giá là điểm phù hợp với đặc thù đào tạo nghệ thuật.

Theo thầy Chung, giá trị của những nghệ sĩ, nghệ nhân có thành tựu nổi bật không chỉ nằm ở bằng cấp mà còn ở quá trình hoạt động nghề nghiệp, năng lực thực hành và những đóng góp đã được xã hội ghi nhận. Vì vậy, cơ chế mới có thể góp phần giảm bớt rào cản về bằng cấp, tạo điều kiện để các nghệ sĩ, nghệ nhân có chuyên môn và thành tựu thực tiễn tham gia vào hoạt động đào tạo.

Với những lĩnh vực đặc thù, thậm chí có những ngành “đặc thù trong đặc thù” như tuồng, chèo hoặc một số loại hình nghệ thuật truyền thống, việc thu hút những nghệ sĩ, nghệ nhân có trình độ nghề nghiệp cao tham gia giảng dạy càng có ý nghĩa. Đây không chỉ là cách bổ sung nguồn nhân lực cho nhà trường mà còn góp phần truyền nghề, bảo tồn và phát huy những giá trị nghệ thuật mà đào tạo hàn lâm thông thường khó có thể thay thế hoàn toàn.

Cần cơ chế riêng về tỷ trọng thu khoa học, công nghệ cho trường đặc thù

Tiêu chí 6.1, Tiêu chuẩn 6, Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT quy định: Tỷ trọng thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tổng thu của cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ (có tính trọng số theo lĩnh vực), tính trung bình trong 03 năm gần nhất không thấp hơn 5% (chỉ áp dụng đối với cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ).

So với Thông tư 01/2024/TT-BGDĐT về chuẩn cơ sở giáo dục đại học hiện hành, tiêu chí 6.1 không còn loại trừ các trường đào tạo ngành đặc thù mà áp dụng chung với tất cả cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ.

Cách quy định này đặt ra một vấn đề cần được làm rõ. Bởi nếu đã xác định một số yêu cầu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không bắt buộc áp dụng đối với các cơ sở đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật, và nhóm ngành thể dục, thể thao thì việc tiêu chí 6.1 vẫn yêu cầu các cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ, không phân biệt lĩnh vực phải bảo đảm tỷ trọng nguồn thu từ các hoạt động này ở mức trung bình trong 3 năm gần nhất tối thiểu 5% có thể tạo ra sự thiếu đồng nhất trong cách tiếp cận.

Theo Tiến sĩ Phan Lê Chung, sự khác biệt về phạm vi áp dụng giữa tiêu chí 6.1 và 6.2 có thể dẫn đến độ vênh nhất định trong cách tiếp cận và đánh giá đối với các cơ sở đào tạo lĩnh vực Nghệ thuật, nhóm ngành thể dục, thể thao.

Nếu tiêu chí 6.2 không bắt buộc thì tiêu chí 6.1 cũng cần có sự điều chỉnh tương ứng đối với các trường đào tạo ngành đặc thù. Không nhất thiết phải bỏ hoàn toàn yêu cầu về tỷ trọng nguồn thu nhưng có thể giảm ngưỡng cho phù hợp với đặc điểm của nhóm trường này.

Bởi trên thực tế, kết quả nghiên cứu, sáng tạo, chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm chính là một trong những cơ sở quan trọng để hình thành nguồn thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Điều quan trọng không phải là miễn hoàn toàn yêu cầu đối với các trường đặc thù, mà là xây dựng một ngưỡng phù hợp để vừa duy trì yêu cầu về chất lượng, vừa phản ánh đúng năng lực và đặc điểm hoạt động của từng nhóm cơ sở đào tạo. Nếu áp dụng cứng một ngưỡng tỷ trọng nguồn thu chung, các trường nghệ thuật có thể gặp nhiều khó khăn hơn so với những cơ sở đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ - nơi hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa kết quả khoa học có nhiều điều kiện thuận lợi để tạo nguồn thu.

“Thực tế, nguồn thu chủ yếu của nhiều trường đại học vẫn chủ yếu đến từ học phí, trong khi nguồn thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa phải là nguồn thu lớn. Đối với các trường nghệ thuật, đặc biệt, sản phẩm của giảng viên thường gắn với hoạt động đào tạo, sáng tạo, biểu diễn và thực hành nghề nghiệp. Những sản phẩm này không phải lúc nào cũng có thể chuyển thành nguồn thu hoặc thương mại hóa theo mô hình phổ biến ở các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật.

Vì vậy, nếu cùng áp dụng một ngưỡng tỷ trọng nguồn thu, cần tính đến sự khác biệt về cách thức tạo ra sản phẩm, giá trị sản phẩm và khả năng thương mại hóa giữa các nhóm ngành. Một cơ chế linh hoạt hơn sẽ giúp chuẩn đánh giá vừa giữ được yêu cầu về chất lượng, vừa khuyến khích các trường phát huy đúng thế mạnh chuyên môn của mình”, Tiến sĩ Phan Lê Chung bày tỏ.

chuong-trinh-bieu-dien-khoa-day-vao-toi-2003-tai-phong-hoa-nhac-lon-hoc-vien-chao-mung-va-khai-mac-chuoi-hoa-nhac-mung-ky-niem-70-nam-ngay-thanh-lap-hoc-vien-am-nhac-quoc-gia-viet-nam-1956.jpg
Chương trình biểu diễn kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam. Ảnh: website nhà trường.

Còn theo Phó Giáo sư Nguyễn Huy Phương, nhà trường cần có thêm hướng dẫn cụ thể cho nhóm cơ sở đào tạo đặc thù để trong quá trình triển khai tránh phát sinh những điểm chưa phù hợp với thực tế. Bởi các cơ sở đào tạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao có chức năng, quy mô, cơ cấu ngành đào tạo và phương thức tổ chức hoạt động khác với các trường đại học đa ngành hoặc những cơ sở đào tạo có thế mạnh về khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

Đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, những năm gần đây Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam từng bước tăng cường ứng dụng công nghệ trong đào tạo. Một số ngành, chuyên ngành đã sử dụng các công cụ, thiết bị và phương thức công nghệ trong sáng tác, biểu diễn, giảng dạy và thực hành chuyên môn. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng cũng như khả năng hình thành các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và nguồn thu từ lĩnh vực này vẫn có những giới hạn nhất định nếu so sánh với các cơ sở đào tạo khoa học, kỹ thuật, công nghệ hoặc những trường có hoạt động nghiên cứu khoa học là một trong những trụ cột chính.

Từ thực tế đó, thầy Phương cho rằng việc áp dụng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học cần có sự phân hóa phù hợp giữa các nhóm trường, thay vì áp dụng cứng một mặt bằng yêu cầu cho tất cả cơ sở đào tạo. Các tiêu chí chung vẫn cần được duy trì để bảo đảm chất lượng nhưng cách xác định mức độ đáp ứng cần tính đến sứ mạng, lĩnh vực đào tạo, quy mô người học và điều kiện hoạt động thực tế của từng cơ sở.

Nếu chỉ áp dụng cứng các quy định như tỷ trọng thu hoạt động khoa học công nghệ trung bình trong 3 năm gần nhất không thấp hơn 5% mà chưa có hướng dẫn hoặc cơ chế phù hợp để xử lý những khác biệt giữa các nhóm trường, quá trình triển khai có thể phát sinh vướng mắc và chưa bảo đảm sự thống nhất trong thực tế. Vì vậy, nhà trường cần tiếp tục nghiên cứu kỹ toàn bộ nội dung của Thông tư 83, đồng thời chờ thêm hướng dẫn từ cơ quan quản lý để có cơ sở đánh giá đầy đủ hơn về khả năng đáp ứng, xác định cách thức thực hiện và chủ động xây dựng phương án phù hợp với đặc điểm đào tạo của nhà trường.

Thúy Hiền